Chương 60: Không một ai sống sót
***
Sắc trời dần tối xuống.
Vầng mặt trời vàng rực ngả về phía tây, tia ráng chiều đỏ cuối cùng bị đỉnh núi nuốt chửng, dưới tầng mây đen dày đặc, cả rừng trúc ngập núi bị cuồng phong thổi nghiêng ngả, lá bay tán loạn.
Vài sợi mưa nhỏ như kim bạc rơi xuống từ đỉnh đầu, lạnh buốt như đâm vào da thịt.
A Cát quay đầu: “Tiểu Ngọc tỷ, lại bắt đầu mưa rồi.”
Núi Tiểu Dung sắp vào mùa mưa, cứ đến đêm là trời lại đổ mưa, đường núi khi mưa rất khó đi, nhưng cũng có chỗ tốt, ít nhất đám quan quân kia cũng không dám tùy tiện hành động giữa đêm khuya mưa gió.
“Trời tối rồi, trước tiên tìm chỗ trú mưa đã.” Tiền Tiểu Ngọc nhìn quanh bốn phía, bóng rừng trúc trong màn đêm chẳng còn vẻ tĩnh mịch yên bình như trước, trái lại trở nên nguy hiểm đáng sợ.
Hai người đưa Ô Na theo, chẳng bao lâu đã tìm được một hang núi kín đáo giữa rừng, khom lưng chui vào.
Không lâu sau, mưa bắt đầu nặng hạt.
A Cát tìm ít cành cây che kín cửa hang, sau đó mới lấy gậy đánh lửa ra châm lửa, Tiền Tiểu Ngọc đặt Ô Na từ trên lưng xuống, đỡ nó tựa vào vách đá ngồi dậy.
Đây đã là đêm thứ hai bọn họ bị đám quan quân truy sát.
Tiền Tiểu Ngọc mở tay nải, như thường lệ lấy ra một chiếc màn thầu bẻ làm đôi, đưa cho A Cát một nửa, A Cát nhận lấy, kéo vạt áo lên cúi đầu ngửi ngửi, vẻ mặt khó xử, hoàn toàn chẳng có khẩu vị ăn uống.
Tiền Tiểu Ngọc khuyên: “Ăn chút đi, không ăn sẽ chẳng còn sức đâu.”
Ban ngày, quân Cẩn Tây đuổi theo bọn họ không buông, có mấy lần suýt nữa đã bắt được tận tay, Tiền Tiểu Ngọc dần nhận ra nguyên do, con chó săn đám khốn kiếp kia mang theo có chiếc mũi quá thính, có thể đánh hơi ra tung tích của bọn họ.
Cứ tiếp tục thế này không được, bọn họ ít người, đối phương lại đông, nếu cứ lần theo mùi mà bao vây, sớm muộn gì cũng bị bắt gọn như ba ba trong rọ.
Trong lúc cấp bách, hai người nghĩ ra một cách, nhặt phân thú rừng trát khắp người, núi Tiểu Dung rộng lớn, thú hoang cũng nhiều, muốn tìm chút phân cáo, chó hay lửng vô cùng dễ dàng, hai người trát đầy thứ dơ bẩn lên người, lại cẩn thận bôi cho Ô Na, quả nhiên được yên ổn một khoảng thời gian.
Chỉ có điều làm như vậy cũng khiến bọn họ chậm trễ hành trình, nếu không, theo kế hoạch ban đầu, trước khi trời tối bọn họ đã có thể xuống núi rồi.
Ánh lửa trong hang chập chờn, A Cát chán ghét mùi hôi trên người nên chẳng muốn ăn, nhưng Tiền Tiểu Ngọc lại hoàn toàn không bị ảnh hưởng, ăn rất ngon lành.
Nàng ăn hết chiếc màn thầu chỉ trong vài miếng, uống chút nước sạch rồi đứng dậy định cho Ô Na uống thuốc, vừa đi tới bên cạnh Ô Na, đứa bé đã chậm rãi mở mắt, tỉnh lại.
“Ô Na?” Tiền Tiểu Ngọc khẽ gọi.
Bé gái nhìn thấy nàng, vành mắt lập tức đỏ hoe, hai hàng nước mắt tuôn xuống.
Từ sau khi Tiền Tiểu Ngọc đưa mình chạy trốn, Ô Na vẫn luôn trong trạng thái mê man, đến giờ dường như cuối cùng cũng tỉnh táo.
Tiền Tiểu Ngọc sờ trán nó, không còn nóng nữa, trời xui đất khiến thế nào mà đứa trẻ này dường như đã hạ sốt. A Cát cũng vội bước tới, ngồi xổm trước mặt Ô Na, dịu dàng gọi tên cô bé.
Ô Na nhìn thấy A Cát, lập tức túm chặt tay cậu, càng khóc nức nở dữ dội hơn, Tiền Tiểu Ngọc và A Cát nhìn nhau, trong thời gian ngắn không ai lên tiếng.
Ô Na còn nhỏ tuổi, cứ thế tận mắt chứng kiến người thân bị sát hại, cú sốc lớn đến mức nào có thể tưởng tượng được, bất kỳ lời an ủi nào lúc này cũng đều trở nên vô nghĩa, huống hồ bọn họ cũng chẳng có nhiều thời gian.
Đám quan quân có thể tìm thấy bọn họ bất cứ lúc nào, tuy mưa đêm trên núi Tiểu Dung tạm thời có thể cản bước đám quan quân, nhưng mọi chuyện không phải tuyệt đối an toàn, nếu tiếng khóc của Ô Na dẫn dụ đám người kia tới…
Khoan đã.
Tiền Tiểu Ngọc đột nhiên quay đầu, nhìn đứa bé đang được A Cát ôm trong lòng, khóc đến không thở nổi.
Nó khóc rất bất lực, rất đau lòng, nhưng xung quanh lại chẳng vang lên chút âm thanh nào, cảnh tượng trước mắt vì thế trở nên hoang đường khác thường, tựa như giữa đất trời có ai đó đứng ngoài tất cả, thô bạo xóa sạch mọi âm thanh.
“A… A Cát,” Tiền Tiểu Ngọc lắp bắp, “… Sao Ô Na khóc mà không phát ra tiếng?”
Mãi đến lúc này nàng mới muộn màng nhớ ra, suốt dọc đường chạy trốn, dường như Ô Na chưa từng nói thêm một lời nào nữa.
A Cát cũng sửng sốt, theo bản năng buông tay.
Ô Na vẫn đang khóc, trên mái tóc tết lỏng lẻo của đứa trẻ, đóa hoa cài tóc màu hồng duy nhất còn sót lại khẽ run rẩy theo từng cơn nức nở.
Nhưng chẳng có lấy một âm thanh.
*
Máu men theo giày tất chảy ra, ngoằn ngoèo trên mặt đất, len vào những khe nứt quanh co rồi dần lan rộng, từ xa nhìn lại như một đóa hoa đỏ thắm với những cánh hoa rối loạn được vẽ trên vùng đất hoang.
Người ngồi dưới gốc cây mím chặt môi, mồ hôi trên đầu tuôn xuống như mưa.
Triệu Thất, tên dẫn đường cứng miệng kia, lúc này dưới từng nhát chải của chiếc lược sắt, cuối cùng cũng không nhịn nổi mà chịu mở miệng.
“Ta nói… ta nói!”
Bàn tay cầm chiếc lược dài của Trúc Chân khựng lại, hắn đứng dậy nhường chỗ cho Hoắc Tầm phía sau.
Trời âm u, chẳng biết mặt trời đã biến mất từ lúc nào, bên ngoài những ụ đất chất thành đống trong khu rừng hoang, những bộ xương trắng đã yên nghỉ dưới lòng đất nhiều năm lại lần nữa được đưa ra ánh sáng, gió thổi qua, như vang lên những tiếng cựa mình khe khẽ.
Giữa bầu không khí lạnh lẽo âm u ấy, giọng Triệu Thất vang lên.
“Bọn họ… Kẻ giết bọn họ quả thực không phải Man tộc, mà là quân Cẩn Tây…”
Hàn Vân Sơn trợn tròn mắt.
“Năm xưa quân Cẩn Tây chúng ta đóng quân trấn thủ ở Sóc Phương. Sóc Phương đất đai khắc nghiệt, thời tiết giá rét, dân nghèo thiếu gạo, quân lương triều đình cấp xuống bị cắt xén qua từng tầng từng lớp, đến tay chúng ta chỉ còn gạo cũ bột mốc, ngay cả bụng cũng chẳng được ăn no… nào được phong quang như bây giờ…”
Ánh mắt Triệu Thất dần trở nên mơ màng.
Đó là quãng thời gian khổ cực nhất kể từ khi hắn tòng quân.
Lạnh lẽo, khốn khổ, đói khát.
Sóc Phương chỉ là một vùng biên thùy nhỏ bé, thực ra chẳng có chiến sự gì, nhưng một khi triều đình đã hạ lệnh, bọn họ phải ngồi mãi ở nơi khỉ ho cò gáy ấy, chẳng biết đến bao giờ mới được giải thoát.
Chủ soái quân Cẩn Tây tên Ngụy Đình, vốn chỉ là một đầu mục nhỏ xuất thân hàn môn, võ nghệ cực giỏi, lại ôm dã tâm, đám binh lính bọn họ đi theo hắn đều vô cùng tâm phục khẩu phục. Ngụy Đình cũng chưa từng cắt xén phần của thuộc hạ, tuy quân Cẩn Tây nghèo khổ nhưng trên dưới vẫn khá đồng lòng.
“Có một năm, chính là tám năm trước, Sóc Phương đổi quân trấn thủ, triều đình triệu quân Cẩn Tây về Kinh, chúng ta đã xa nhà nhiều năm từ lâu đã mong được trở về.”
Chẳng ai muốn mãi ở lại vùng đất khổ cực ấy, khi đó có lời đồn rằng triều đình triệu quân Cẩn Tây về là để điều đi nơi khác. Mọi người đều mong được đổi tới một nơi tốt hơn, hoặc ít nhất được triều đình coi trọng, nhưng võ tướng Đại Nghiệp muốn thăng quan, tất cả đều phải dựa vào quân công.
Không có quân công thì chẳng có tiền đồ.
Có lẽ ông trời cũng thương xót công lao bao năm trấn thủ biên cương của bọn họ, nên khi đi ngang vùng ngoại thành Vị Châu, bọn họ phát hiện tung tích Man tộc.
“Huynh đệ chúng ta đều vui mừng lắm, chúng ta không sợ Man tộc, cũng chẳng sợ chết, giết được càng nhiều Man tộc càng có thể chứng minh bản lĩnh của quân Cẩn Tây!” Trong mắt Triệu Thất lóe lên ánh sáng.
Đây là một cơ hội thăng quan, tất cả mọi người đều hiểu rõ trong lòng.
Man tộc đã nhiều năm không xuất hiện, một khi tiêu diệt được bọn chúng, tin báo về triều, tất sẽ được ban thưởng hậu hĩnh, khi ấy tên tuổi quân Cẩn Tây sẽ được người trong thiên hạ biết đến.
Bọn họ mang theo bầu nhiệt huyết cùng dã tâm, đuổi theo Man tộc, nhưng thực tế lại khiến người ta thất vọng, đám Man tộc ấy chẳng thành thế lực gì, cộng lại cũng chưa tới mười tên.
Nguyên nhân cũng là vì nhiều năm trước, Trường Ninh hầu từng dẫn quân bình loạn, tiêu diệt gần sạch đám giặc Man, chỉ còn sót lại một ít tàn binh chẳng đáng kể.
Chút binh mã ấy cho dù báo lên triều đình cũng chẳng thể tính là “quân công hiển hách” gì.
Con người vốn là như vậy, một khi đã ôm kỳ vọng, rồi đem kỳ vọng so sánh với thực tế, rất dễ sinh ra không cam tâm.
Mỗi người trong quân Cẩn Tây đều có nỗi không cam tâm riêng.
Giá mà đám Man tộc này có tới hàng trăm tên thì tốt… Giá mà đám Man tộc này có thể gây ra một trận loạn lạc thì tốt… Giá mà số thủ cấp Man tộc bọn họ chém được có thể khiến cả Đại Nghiệp chấn động thì tốt…
Ai nấy đều nghĩ như vậy.
“Chúng ta đuổi theo Man tộc lên núi Tiểu Dung, từ miệng những tên Man tộc bị bắt làm tù binh, chúng ta biết bọn chúng vốn định cướp đường những dân làng xuống núi, nhờ đó mới biết trên núi Tiểu Dung có một nhóm người dị tộc sinh sống.”
“Chính là người tộc Vân Ô ở thôn Sa Cừ.”
Đám quan quân vừa đánh thắng trận lại chẳng có lấy nửa phần vui mừng, ai nấy đều mang tâm sự nặng nề, thế nhưng đám Man tộc kia lại vô cùng ngông cuồng, có lẽ biết tàn đảng của mình đã đến lúc tận số, bọn chúng mặc sức cười nhạo quân Cẩn Tây thân là binh mã triều đình, vậy mà áo giáp binh khí cũ nát, nghèo túng chẳng khác nào ăn mày.
Giữa bầu không khí chán nản ấy, chủ soái quân Cẩn Tây Ngụy Đình nhân đêm tối triệu tập tâm phúc vào doanh trướng, nói cho mọi người biết một kế hoạch.
Ánh mắt Hoắc Tầm lạnh lẽo sắc bén: “Giết dân lành mạo nhận quân công.”
“Không sai.”
Triệu Thất cười.
Người tộc Vân Ô trên núi Tiểu Dung vốn cũng chẳng phải người Trung Nguyên, quanh năm sống ẩn mình trong núi, nhân khẩu có tới mấy trăm, nếu có thể giả những dân làng ấy thành Man tộc rồi tuyên bố đã tiêu diệt, quân công thu được đủ để thăng tước.
Đó là một chiến công đầy cám dỗ.
“Đại nhân sai đội tiên phong lẻn tới gần thôn, thăm dò rõ nhân khẩu cùng số lượng thanh niên trai tráng trong thôn, biết được ngày mùng Ba tháng Ba, tất cả mọi người đều sẽ lên núi tham gia lễ hội, vừa hay thuận tiện một mẻ tóm gọn, nào ngờ hôm ấy lúc binh mã lên núi lại đột nhiên xảy ra biến cố.”
“Người thôn Sa Cừ đã mai phục sẵn trên núi. Huynh đệ trong quân vừa lên tới nơi đã sa vào bẫy, khiến toàn bộ kế hoạch bị đảo lộn.”
Trong mắt Triệu Thất thoáng hiện vẻ mờ mịt.
Vốn tưởng mọi chuyện sẽ dễ như trở bàn tay, nào ngờ đến phút cuối lại xảy ra biến cố, người tộc Vân Ô đương nhiên không thể sánh với quân Cẩn Tây được huấn luyện bài bản, nhưng nơi này là địa bàn của bọn họ, thủ đoạn đặt bẫy của dân làng cũng vượt ngoài dự liệu, cứ tiếp tục như vậy, cho dù có thể giết sạch bọn họ, cũng chưa chắc bảo đảm không xảy ra sơ sót.
Mà kế hoạch này lại tuyệt đối không cho phép có bất kỳ sai lầm nào.
Trong thời khắc ngàn cân treo sợi tóc, may nhờ Ngụy Đình ứng biến nhanh nhạy, ra lệnh cho binh lính dừng ngựa, đồng thời giải thích với dân làng rằng bọn họ đuổi theo Man tộc vào núi.
“Đám người tộc Vân Ô nghe thấy vậy, người cầm đầu lập tức sai người dừng tay, nói rằng bọn họ cũng vì đề phòng Man tộc tập kích nên mới đặt bẫy.”
Hàn Vân Sơn đứng bên cạnh nghe từ đầu đến giờ, không nhịn được chen lời: “Sao bọn họ biết có Man tộc vào núi?”
Dù sao Man tộc cũng đã biến mất nhiều năm.
“Đây chính là chuyện kỳ lạ.”
Dù đã cách nhiều năm, lúc nhắc tới chuyện khi ấy, trên mặt Triệu Thất vẫn hiện lên vẻ khó hiểu.
“Sau đó, để bọn họ buông lỏng cảnh giác, cũng tiện dò hỏi tin tức, đại nhân cùng tộc trưởng trở về thôn. Khi ấy mới biết, vào đêm trước lễ hội, có người trong thôn được thần nữ báo mộng, nói Man tộc sắp lên núi, già trẻ thôn Sa Cừ không một ai có thể sống sót, vì thế bọn họ mới đặt bẫy để phòng bất trắc.”
“Báo mộng?”
Hàn Vân Sơn theo bản năng liếc nhìn Từ đường, qua cánh cửa gỗ mục nát, pho tượng Nguyệt Thần nương nương loang lổ bùn đất trong chính điện đang dịu dàng nhìn hắn.
Hàn Vân Sơn không nhịn được rùng mình.
Nơi này vốn đã âm khí nặng nề, ban nãy Hoắc Tầm lại còn đào lên cả đống mồ mả cũ, giờ nghe Triệu Thất kể chuyện, rồi nhìn pho tượng nữ thần kia, bức tượng đất vốn cứng đờ vô tri dường như cũng trở nên sống động, ánh mắt ngậm cười ấy thực sự khiến người ta sởn tóc gáy.
Triệu Thất nhìn theo ánh mắt hắn, cũng trông thấy pho tượng trong Từ đường bèn khinh thường cười một tiếng.
“Làm gì có chuyện báo mộng thật chứ? Nếu thần tiên trên đời thực sự có thể cứu người, năm đó đám người ấy đã chẳng chết dưới lưỡi đao. Đại nhân chôn bọn họ sau Từ đường, ngày đêm đối diện nhau, nếu thật sự linh thiêng, bọn họ đã sớm tìm chúng ta báo thù rồi, sao có thể ngoan ngoãn suốt bao năm, ngay cả đánh một cái rắm cũng chẳng dám…”
“Bốp” một tiếng, Trúc Chân vung tay tát mạnh, đánh lệch cả khóe miệng Triệu Thất.
Hoắc Tầm lạnh nhạt nói: “Nói tiếp.”
Bị ăn một cái tát, Triệu Thất không dám ngông cuồng nữa, nhưng trong lòng rốt cuộc vẫn không cam, ánh mắt nhìn hai người càng thêm oán hận.
“… Chúng ta được đám người ấy dẫn về thôn, sau khi xác nhận trong thôn không có mai phục, đại nhân ra lệnh động thủ.”
“Bọn họ vốn chỉ là dân thường, trong lúc không hề phòng bị, căn bản chẳng phải đối thủ của quân Cẩn Tây. Giết rất nhanh, chưa tới nửa ngày đã giết sạch.”
Hắn kể chuyện tàn sát dân làng nhẹ nhàng như đang chặt dưa thái rau, chẳng có chút nhân tính.
“Đại nhân bảo chúng ta chọn ra những thanh niên trai tráng, chém lấy thủ cấp, khoác giáp của đám Man tộc lên người bọn họ, hủy hoại mặt mũi đến mức không còn nhận rõ, rồi mang xuống núi làm chiến lợi phẩm. Còn đám phụ nữ trẻ nhỏ chẳng có tác dụng gì, giết xong thì chôn ngay tại chỗ, chính là những bộ hài cốt ngươi đang đào lên đó.”
Hàn Vân Sơn không nghe nổi nữa, hai quả óc chó bằng ngọc trong tay bị hắn siết chặt, hắn mắng: “Đúng là súc sinh không bằng heo chó! Đến cả dân làng tay không tấc sắt mà các ngươi cũng xuống tay được!”
“Vốn dĩ chúng ta cũng chẳng muốn giết bọn họ.” Triệu Thất cười lạnh một tiếng, “Nếu hôm ấy thật sự có Man tộc lên núi, đương nhiên chúng ta sẽ giết Man tộc, trên đời này ai chẳng muốn làm anh hùng? Thời thế ép người, liên quan gì tới chúng ta?”
“Muốn trách thì trách số bọn họ đã định phải chịu kiếp nạn này, muốn trách thì trách chế độ quân công của Đại Nghiệp quá hà khắc, trách triều đình vứt quân Cẩn Tây chúng ta ở Sóc Phương suốt bảy tám năm chẳng thèm ngó ngàng, không lập được công cũng chẳng dựng được nghiệp, chúng ta chỉ còn cách tự tìm đường sống! Liên quan gì tới chúng ta!”
Hắn nhìn về phía khu rừng cách đó không xa, đống xương trắng nhô lên khỏi lớp đất bùn đã đủ đáng sợ giữa vùng núi sâu hoang vắng, nhưng thực ra đây mới chỉ là phần nổi của tảng băng, bên dưới chỉ có thể chôn càng nhiều, càng dày đặc hơn, cho đến khi trải kín cả vùng đất dưới chân, cả khu rừng này đều là thi thể.
“Cái mõm chó của ngươi đúng là giỏi ngụy biện.” Hàn Vân Sơn lập tức nổi trận lôi đình, “Giỏi giang đến thế, sao không ra tay với quân phòng thủ thành Vị Châu, lại phải lựa tới lựa lui, chọn đúng một thôn làng hẻo lánh trên núi hoang? Chẳng phải chỉ là hiếp yếu sợ mạnh, tham sống sợ chết hay sao? Đồ tạp chủng chó đẻ, thể diện mười tám đời tổ tông nhà ngươi đều bị ngươi làm mất sạch rồi! Đồ khốn vô dụng thất đức, đáng bị tuyệt tử tuyệt tôn…”
Hàn Vân Sơn mắng đến sảng khoái, mắng cho Triệu Thất mặt mày căng đỏ, sắc mặt lúc xanh lúc trắng, nhưng Trúc Chân vẫn đứng ngay trước mặt, đôi ủng chỉ cách đôi chân bị thương của hắn chưa đầy một tấc, hắn đành cắn răng nhẫn nhịn.
Hoắc Tầm từ trên cao nhìn xuống hắn, đột nhiên hỏi: “Kẻ nói với dân làng rằng Nguyệt Thần báo mộng là ai?”
Triệu Thất sửng sốt, rất nhanh đã đáp: “Không biết.”
“Còn chưa kịp tìm ra người ấy, tộc trưởng thôn Sa Cừ đã bị giết, sau đó chúng ta giết sạch cả thôn, có lẽ người ấy cũng là một trong số đó.”
Năm xưa Triệu Thất chỉ là một tên lính quèn trong quân Cẩn Tây, chưa được Ngụy Đình coi trọng như hiện giờ, trên thực tế, chính sau khi vụ án núi Tiểu Dung xảy ra năm ấy, toàn bộ quân Cẩn Tây mới thật sự gắn kết chặt chẽ thành một khối.
Đó là bí mật chung của bọn họ.
Nam nhân lại hỏi: “Những người sống sót đang ở đâu?”
“Người sống sót nào?”
“Những người sống sót sau vụ án núi Tiểu Dung tám năm trước.”
Triệu Thất cười một tiếng: “Làm gì có người sống sót, đều bị chúng ta giết sạch rồi! Chính vì sợ cá lọt lưới gây chuyện, năm ấy sau khi đại nhân giết hết người trong thôn, còn cố ý dẫn binh đi lùng sục khắp núi, hễ thấy người sống, bất kể có phải dân thôn Sa Cừ hay không đều không tha.”
“Lúc lục soát núi, hình như còn phát hiện thêm bảy tám người nữa, có người lên núi hái thuốc, có cả trẻ con… Cũng có kẻ chẳng biết có phải người qua đường hay không. Khi ấy đội trưởng của nhóm ta may mắn nhất, giết được người, còn cướp được chiếc vòng vàng của người ta, sau đó mang về thành bán được không ít bạc, khiến đám huynh đệ chúng ta hâm mộ chết đi được.”
***