Chương 42
***
Sáng sớm hôm sau, đoàn người khởi hành trở về Trường An.
Lần này hộ vệ đi theo lên đến hơn trăm người, dọc đường sóng yên biển lặng, không còn trắc trở gì thêm.
Tuy nhiên, làn sóng sùng Phật trỗi dậy từ Phù Phong đã quét đến tận địa giới Trường An. Vừa vào cửa thành, mùi hương nến nồng nặc xộc thẳng vào mũi, dọc đường những cảnh tượng bi thảm như bán vợ đợ con, chặt tay đốt mình để biểu thị lòng thành kính cũng không còn là chuyện hiếm gặp.
Tiêu Trầm Bích buông rèm xe xuống, sắc mặt ngưng trọng: “Việc này vẫn nên sớm bắt tay vào làm thôi. Nếu thật sự nghênh đón Phật cốt về, thứ hủ tục ngu muội này chắc chắn sẽ ngày càng lan rộng, không biết còn bao nhiêu bách tính phải chịu cảnh nhà tan cửa nát.”
Lý Tu Bạch chậm rãi mở mắt, vẫ là vẻ xa cách thường lệ: “Quận chúa mà cũng có lòng từ bi thế này sao?”
Tiêu Trầm Bích cười lạnh một tiếng: “Chẳng lẽ trong mắt Điện hạ, ta chỉ là hạng người máu lạnh vô tình, chuyên đi ức hiếp dân lành?”
Bầu không khí trong xe chợt đông cứng lại. Lý Tu Bạch không nói thêm gì nữa, nhắm mắt dưỡng thần, Tiêu Trầm Bích cũng ngoảnh mặt đi chỗ khác.
Cả quãng đường im lặng cho đến khi về tới Trường Bình vương phủ. Vừa vào phủ, Tiêu Trầm Bích liền tự giác đeo lên bộ mặt tươi cười giả tạo, đi bên cạnh Lý Tu Bạch. Lý Tu Bạch nhìn nụ cười gắng gượng trên mặt nàng, trong lòng bực bội khó hiểu.
Trong phủ sớm đã nhận được tin về vụ ám sát, Lão Vương phi lo lắng như ngồi trên đống lửa, vừa thấy Tiêu Trầm Bích, bà đã kéo tay nàng nhìn kỹ một lượt: “Có bị thương ở đâu không? Không được, vẫn nên gọi thị y đến chẩn trị một phen mới yên tâm.”
Tiêu Trầm Bích vội vàng ôn tồn trấn an: “Bà mẫu khoan hãy lo lắng, lúc ở chùa Pháp Môn đã mời đại phu xem qua rồi. Đứa nhỏ này cứng cáp lắm, không cần phải làm phiền đến thị y nữa đâu.”
Lão Vương phi lúc này mới giãn cơ mặt, chuyển sang truy hỏi chuyện thích khách: “Nghe nói là sơn tặc làm loạn? Sao lại khéo thế, lại nhắm trúng các con?”
Lý Tu Bạch đưa mắt ra hiệu, Tiêu Trầm Bích hiểu ý, biết hai mẹ con họ có chuyện quan trọng cần bàn bạc nên ngoan ngoãn cáo lui về nghỉ ngơi.
Đợi nàng đi khỏi, vẻ mặt Lý Tu Bạch trở nên nghiêm nghị, nói: “Không phải sơn tặc. Theo con quan sát đường đi nước bước của bọn chúng, đa phần là bút tích của Khánh vương.”
“Ta biết ngay chuyện này không đơn giản như thế! Tên hoạn quan Vương Thủ Thành trước tiên là vu cáo hãm hại phụ vương con, sau lại bày mưu vụ tuyết lở ở Yến Sơn hòng đưa con vào chỗ chết, nay lại dám công nhiên phục kích ngay vùng kinh kỳ Trường An. Kẻ này không trừ, hậu họa khôn lường!” Lão Vương phi lo âu khôn xiết, “Nhưng kẻ này có công phò tá, năm đó nếu không nhờ hắn ủng lập, Lý Nghiễm sao có thể đăng cơ? Nay lão ta quyền khuynh triều dã, được lòng thánh nhân, e là không dễ dàng diệt trừ.”
“Mẫu thân yên tâm, nhi tử đã có trù tính. Đợi chuyện Phật cốt êm xuôi, chính là lúc toàn lực thanh toán phe cánh Khánh vương và Vương Thủ Thành.”
Lý Tu Bạch tóm lược ngắn gọn những sắp xếp sau đó, lão Vương phi liên tục gật đầu: “Con hành sự, mẫu thân xưa nay vẫn luôn yên tâm. Có cần mẫu thân làm gì không?”
Lý Tu Bạch trầm ngâm một lát: “Mẫu thân không cần nhập cục, chỉ là… nhi tử cần hỏi mẫu thân một vài chuyện cũ.”
Lão Vương phi hơi ngẩn người, thở dài một tiếng: “…Được, nếu có thể giúp được con, có lẽ Bão Chân cũng sẽ vô cùng vui vẻ.”
*
Tại phủ Khánh vương
Vụ ám sát một lần nữa thất bại, Khánh vương nổi trận lôi đình với Vương Thủ Thành: “Lần trước tuyết lở Yến Sơn để hắn trốn thoát thì thôi đi, lần này đường núi hiểm trở, thiên thời địa lợi như vậy mà cũng xôi hỏng bỏng không! Thật là lũ vô dụng!”
Bùi tướng ở bên cạnh khuyên nhủ: “Điện hạ bớt giận! Những lời này nói trước mặt lão thần thì được, vạn lần không được để lọt đến tai Vương Trung úy. Kẻ đó tính tình hẹp hòi, thù dai nhớ lâu, lại có công định quốc, nếu trở mặt với ông ta thì đối với chúng ta chỉ có hại mà không có lợi!”
Khánh vương nén giận: “Bản vương biết rồi.”
Nếu không vì kiêng dè thế lực của Vương Thủ Thành quá lớn, hắn lẽ nào lại phải cưới dưỡng nữ của ông ta làm phi? Vị Vương phi này của hắn tâm tính độc ác, năm đó vì muốn gả vào vương phủ mà không tiếc tay phóng hỏa thiêu chết tất cả người thân để tuyệt diệt hậu họa. Sau khi gả vào, nàng ta ngày đêm giám sát hắn, ngay cả cơ thiếp cũng không cho hắn chạm vào.
Khánh vương hận thấu xương tủy nhưng cũng chỉ có thể nhẫn nhục chịu đựng.
“Còn nữa.” Hắn lo âu vô cùng, “Lần này thất thủ, Cửu đệ vốn thông minh hơn người, e là đã đoán ra đây là bút tích của chúng ta rồi?”
Bùi Kiến Tố vê râu trầm ngâm: “Thích khách đều ngụy trang thành sơn tặc, theo lý thì không có sơ hở, nhưng Trường Bình vương tâm tư cẩn mật, không phải người thường có thể bì kịp, đúng là cần phải cẩn trọng hơn. May mà hắn hiện tại lông cánh chưa cứng, chỉ cần chuyện nghênh đón Phật cốt bị phá hỏng, hắn chắc chắn sẽ mất đi thánh tâm. Chúng ta tạm thời ngồi xem hổ đấu, chờ thời cơ hành động.”
Khánh vương đồng tình, hai người bèn bí mật bàn bạc đối sách tiếp theo.
Thế nhưng, bọn họ vạn lần không ngờ tới, chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, điềm lành “Phật quang phổ chiếu” của chùa Pháp Môn trong chớp mắt đã biến thành một màn kịch hài hước.
Chuyện này phải kể từ mấy bãi tha ma ngoài ngoại thành Trường An.
Chỉ trong vài ngày, giữa các ngôi mộ loạn lạc bỗng xuất hiện “ma trơi” dày đặc, lân quang lấp lánh khiến bách tính lân cận kinh hãi tột độ, lời đồn thổi khắp nơi. Có kẻ gan dạ hiếu kỳ rủ nhau đi thám thính, thế rồi kinh hãi thốt lên rằng luồng sáng “ma trơi” kia có khí tượng vô cùng giống với Phật quang điềm lành ở chùa Pháp Môn!
Lời này vừa thốt ra đã chuốc lấy sự phẫn nộ của đám đông, mọi người lũ lượt mắng nhiếc kẻ đó dám phỉ báng thần Phật. Nhưng ngay sau đó, một chuyện còn khó tin hơn đã hoàn toàn đảo ngược chiều gió.
Thì ra là một tên ác bá thế gia khét tiếng xấu xa trong thành Trường An gần đây dời mộ, người nhà hắn vì cầu an lòng nên đã bỏ giá cao mời cao tăng đến làm pháp sự. Ai ngờ đúng ngày làm lễ, trên những khúc xương mục nát của tên này bỗng tỏa ra “Phật quang” rực rỡ huy hoàng tráng lệ, so với thánh vật ở chùa Pháp Môn chẳng kém cạnh là bao.
Đây quả thực là chuyện nực cười nhất thiên hạ, bởi lẽ sinh thời kẻ này từng cưỡi ngựa giẫm chết người bán hàng rong, ngược sát nô bộc, cưỡng chiếm dân nữ, đến cái chết cũng cực kỳ khó coi, vì dâm dục quá độ mà đột tử trên bụng mỹ nhân rồi bỏ mạng.
Một kẻ ác danh rành rành, chết chóc nhục nhã như thế, cớ sao di cốt lại có thể sánh ngang với xá lợi của Đức Phật?
Có kẻ vốn không tin thần Phật thừa cơ nói thẳng rằng luồng sáng này không phải Phật quang, mà là lân hỏa tự sinh ra khi xương người mục nát, ánh sáng xá lợi ở chùa Pháp Môn cũng cùng một đạo lý đó mà thôi.
Trường An vốn sùng Phật mãnh liệt, dân chúng ban đầu tất nhiên không tin, nhưng lời đồn đại như lửa lớn gặp cỏ khô, cộng thêm mấy ngày sau đó, trong thành liên tục lộ ra những vụ việc thi hài xuất hiện “Phật quang”, từ tù nhân cực ác, đến bách tính lâm bệnh qua đời, thậm chí là hạng bộ khúc nô tỳ thấp kém… đủ mọi hạng người, không thiếu một ai.
Chứng cứ như núi, không thể không tin.
Đúng lúc này, trụ trì chùa Pháp Môn, Pháp sư Tuệ An vốn được xưng tụng là một trong “Tứ đại cao tăng” cũng bị vạch trần một chuyện gièm pha kinh thiên động địa. Hóa ra vị cao tăng luôn rao giảng cấm dục lại bí mật nuôi ngoại trạch ở ngoài chùa, cưới vợ sinh con đã nhiều năm!
Tin tức này giống như đổ thêm dầu vào lửa.
Bách tính vốn đang nghi ngờ về Phật quang nay hoàn toàn bùng nổ, phẫn nộ mắng nhiếc những kẻ gọi là đắc đạo cao tăng kia thảy đều là lũ ngụy quân tử lừa đời lấy tiếng!
Kính sợ và cuồng nhiệt đối với Phật cốt điềm lành trong phút chốc bị thay thế bởi cảm giác nực cười tột độ và phẫn nộ vì bị kẻ khác xỏ mũi.
Chỉ trong thời gian ngắn, cả nước xôn xao. Không chỉ bình dân bách tính quần tình phẫn nộ, mà ngay cả các thế gia quý tộc từng đem vàng bạc gấm vóc dâng cúng cho chùa Pháp Môn cũng cảm thấy bị sỉ nhục nặng nề.
Dân oán sục sôi, hương nến phướn kinh hiếm khi lâm vào cảnh ế ẩm, khách hành hương đổ về chùa Pháp Môn mười phần thì đi hết bảy tám. Tất nhiên, vẫn có số ít kẻ cuồng tín vẫn đang thực hiện hành vi tự thiêu đỉnh đầu, chặt tay dâng Phật, nhưng xung quanh họ không còn tiếng tán thưởng như xưa, chỉ còn lại những lời cười nhạo mỉa mai.
Màn kịch náo loạn dậy sóng suốt bốn ngày, cuối cùng cũng truyền vào Hưng Khánh cung.
Danh hiệu cao tăng của Tuệ An vốn là do chính miệng Thánh thượng Lý Nghiễm sắc phong, chùa Pháp Môn lại là nơi ông ta từng nhiều lần ngự giá quang lâm, hao tốn ngân sách khổng lồ để phụng thờ. Nay nổ ra vụ bê bối tày trời như vậy, Lý Nghiễm nổi trận lôi đình, ngay lập tức hạ mật chỉ, bí mật xử tử Tuệ An cùng thê nhi của lão.
Hành động này vẫn chưa đủ để Thánh nhân bình tâm, Lý Nghiễm càng nghĩ càng giận, lại triệu Kỳ vương đã đề xướng việc nghênh đón Phật cốt vào cung mắng cho một trận vuốt mặt không kịp.
Thế là, đại lễ nghênh đón Phật cốt quy mô lớn, tiêu tốn không biết bao nhiêu tiền của cứ thế mà đột ngột dừng lại.
Việc nghênh đón Phật cốt chết yểu, lại bị trách phạt nặng nề, Kỳ vương về phủ cũng nổi giận phát cuồng, đồng thời nghĩ trăm lần cũng không hiểu ra sao.
Liễu Tông Bật lại nhìn thấu: “Thành Trường An liên tiếp xảy ra chuyện, chuyện xấu của Tuệ An lại bùng nổ đúng vào lúc then chốt như vậy, e rằng không phải ngẫu nhiên mà là do mưu tính từ lâu. Điện hạ nghĩ kỹ xem, dù là chứng thực lân quang trong xương người, hay là đào sâu bí mật của Tuệ An đều không phải công phu một sớm một chiều, mà cần phải bố trí tai mắt tìm hiểu trong thời gian dài. Chỉ sợ dã tâm mưu đồ đại vị của Trường Bình vương còn sớm hơn dự đoán của chúng ta rất nhiều.”
Lần đầu tiên thực sự giao phong với vị “Cửu đệ không màng thế sự” này đã phải chịu thất bại như vậy, Kỳ vương lo âu không thôi. Hắn ngồi ngồi đứng đứng, đi đi lại lại trong phòng: “Thôi Đam là tỷ phu của hắn, vừa khéo thăng chức Lễ bộ Thị lang, e rằng… e rằng hắn căn bản là giả chết, tất cả những chuyện này đều do hắn thao túng! Nay chúng ta hao binh tổn tướng, hắn lại đang lên như diều gặp gió, phải làm sao để đối kháng với hắn đây? Hơn nữa, lần nghênh đón Phật cốt này là bản vương cố ý bày cục làm khó hắn, với tâm cơ thâm trầm kia, chỉ sợ bước tiếp theo hắn sẽ nhắm vào bản vương!”
Vẻ mặt Liễu Tông Bật ngưng trọng, nhưng vẫn trấn an: “Điện hạ chớ nóng nảy. Lần này Trường Bình vương bị ám sát trên đường tới chùa Pháp Môn, mười phần thì có tám chín phần là do Khánh vương làm. Hiện tại, kẻ thù hàng đầu của Trường Bình vương chính là Khánh vương và Vương Thủ Thành. Trai cò đánh nhau, chúng ta chính là ngư ông đắc lợi, cho dù không thành, cũng có thể bắt tay chuẩn bị phản công.”
Kỳ vương nghe thế hơi an tâm: “Liễu tướng có kế sách gì?”
Liễu Tông Bật lúc này mới thong thả bày mưu tính kế, Kỳ vương lúc này giống như kiến bò trên chảo nóng, đối với lời của Liễu tướng tự nhiên là răm rắp nghe theo.
*
Hưng Khánh cung
Trò lừa bịp Phật quang và vụ việc của vị cao tăng đã khiến Thánh thượng Lý Nghiễm mất sạch mặt mũi. Suốt mấy ngày qua, Hưng Khánh cung bao trùm trong mây đen u ám, cung nhân ai nấy đều nín thở ngưng thần, nơm nớp lo sợ, chỉ lo sơ suất một ly là rước họa sát thân.
Tiết Linh Tố cũng như đi trên băng mỏng. Kể từ lần trước Lý Nghiễm nổi trận lôi đình suýt chút nữa đã bóp chết nàng, rồi sau đó lại thăng danh phận cho nàng một cách khó hiểu, nàng càng lúc càng không sao đoán định được thánh tâm. Nếu Lý Nghiễm không triệu kiến, nàng tuyệt đối không dám mạo muội cầu kiến.
Đêm hôm đó, tâm phúc nội thị bên cạnh Lý Nghiễm là Hàn công công bỗng nhiên tới truyền triệu. Tiết Linh Tố hít sâu một hơi, tỉ mỉ chỉnh trang lại dung nhan rồi đi theo ông ta.
Trong tẩm điện, Phụng ngự của Thái y thự đang châm cứu cho Lý Nghiễm, ông ta gần đây lại bị những cơn đau đầu dày vò khổ sở. Sắc mặt Lý Nghiễm u ám như nước, khi liếc thấy cây kim bạc quen thuộc kia, cơn giận tích tụ bấy lâu bỗng chốc bùng phát, ông ta vung tay hất đổ cả bộ trà cụ trên bàn.
“Lũ vô dụng! Ngày ngày chỉ biết dùng những phương pháp này để lừa gạt trẫm! Trẫm biết các ngươi sợ gánh trách nhiệm, nên lúc dùng thuốc hay châm cứu đều không đau không ngứa! Mười năm rồi! Đã tròn mười năm rồi! Bệnh đau đầu này của trẫm có chút khởi sắc nào không?”
Cung nhân trong điện tức khắc quỳ phục dưới đất.
Phụng ngự cũng hoảng hốt bò rạp xuống, giọng nói run rẩy: “Bệ hạ khai ân! Chứng đau đầu này là bệnh mãn tính, cần phải từ từ chữa trị, châm cứu đã là cách giảm đau nhanh nhất rồi ạ…”
“Hừ! Khéo cho câu từ từ chữa trị! Chỉ sợ đợi đến lúc trẫm băng hà rồi các ngươi cũng chưa trị khỏi! Cút! Cút hết ra ngoài cho trẫm!” Lý Nghiễm gầm lên ngắt lời.
Phụng ngự như được đại xá, cuống cuồng lui ra khỏi đại điện.
Tiết Linh Tố đối mặt với đống hỗn độn dưới đất, sắc mặt không đổi, đợi đến khi cơn lôi đình kia hơi dịu đi, nàng mới thong thả tiến lên, dịu dàng trấn an: “Bệ hạ bớt giận, thân thể làm trọng, đừng để đám người kia làm tổn hại long thể. Thiếp có chưng một thố canh an thần, mời Bệ hạ dùng một chút nhé?”
Lý Nghiễm nhìn gương mặt điềm tĩnh dịu dàng của nàng, cơn giận bớt đi vài phần: “Vẫn là nàng có tâm. Mỗi lần chỉ có nàng tới, trẫm mới có thể an giấc được đôi chút. Lại đây, bóp đầu cho trẫm!”
Tiết Linh Tố bèn nhẹ nhàng xoa bóp huyệt thái dương cho ông ta. Dần dần, thần kinh đang căng cứng của Lý Nghiễm lỏng xuống, sắc mặt cũng tốt hơn nhiều.
Chớp lấy thời cơ, nàng vờ như vô ý nhắc đến: “Thiếp nghe nói, nghênh đón Phật cốt không chỉ để cầu quốc vận, mà còn có thể cầu được trường sinh phúc trạch. Đợi đến khi Phật cốt được rước vào cung, Bệ hạ thành tâm phụng thờ, biết đâu chứng đau đầu cố hữu này có thể trị tận gốc…”
Không nhắc đến Phật cốt thì thôi, vừa nhắc tới, sắc mặt Lý Nghiễm lập tức trầm xuống, từ cánh mũi phát ra một tiếng hừ lạnh: “Nàng ở trong thâm cung nên không biết chuyện bên ngoài. Cái gọi là Phật quang phổ độ chẳng qua là một lời nói dối động trời do tên Tuệ An lừa đời lấy tiếng kia thêu dệt để vơ vét của cải mà thôi!”
Tiết Linh Tố lập tức hoàng hốt quỳ xuống, vẻ mặt hoảng hốt: “Thần thiếp vô tri, mong Bệ hạ thứ tội!”
Nàng biết rõ Lý Nghiễm đa nghi, nếu tỏ ra quá am tường chuyện bên ngoài trái lại sẽ khiến ông ta nảy sinh nghi ngờ.
Quả nhiên, Lý Nghiễm thấy nàng sợ hãi bèn đưa tay đỡ nàng dậy, giọng điệu hòa hoãn hơn: “Bỏ đi, chuyện này không liên quan tới nàng. Huống hồ căn bệnh này của trẫm không nằm ở ngoại vật, mà nằm ở cố nhân.”
Tiết Linh Tố thuận thế đứng lên, có phần cẩn trọng và ngây thơ ướm lời: “Bệ hạ cứ nhắc tới cố nhân mãi, thiếp cả gan suy đoán, có lẽ cố nhân vẫn còn tâm kết chưa giải được nên mới khó lòng yên nghỉ? Năm xưa Hán Vũ Đế vì thương nhớ Lý phu nhân mà thành bệnh, đã lệnh cho phương sĩ lập đàn chiêu hồn, cuối cùng mới gặp được phương hồn của Lý phu nhân. Bệ hạ có thể học theo các đế vương cổ, tìm một vị phương sĩ đạo hạnh cao thâm để chiêu hồn cho cố nhân, giãi bày tâm sự, biết đâu có thể giải được tâm kết này?”
Hoàng thất Lý Đường tự nhận là hậu duệ của Lão tử Lý Đam, xưa nay vốn sùng tín Đạo giáo. Lý Nghiễm tuy sùng Phật, nhưng do ảnh hưởng lâu ngày, đối với giới phương sĩ đạo gia cũng dành cho sự đãi ngộ rất mực.
Lời này của Tiết Linh Tố đã đánh trúng vào chấp niệm vặn vẹo sâu kín nhất trong lòng ông ta.
Lý Nghiễm trầm ngâm hồi lâu, cuối cùng triệu tâm phúc nội thị vào, trầm giọng dặn dò chuyện chiêu hồn. Tiết Linh Tố đứng hầu một bên, tảng đá lớn trong lòng lặng lẽ rơi xuống. Bước đầu tiên trong kế hoạch mà Lý Tu Bạch giao phó đã thành công, tiếp theo, phải xem sự sắp xếp của hắn rồi.
Nàng lập tức thông qua tên nội thị bí mật để chuyển tin tức cho Lý Tu Bạch.
Sau khi tuyển lựa kỹ càng, nhiệm vụ này cuối cùng rơi vào tay Lý Hủ của quan Huyền Đô.
Lý Hủ này diện mạo xấu xí, nhưng lại sinh ra với tâm tư linh lung, miệng lưỡi dẻo quẹo. Người lần đầu gặp hắn thường vì vẻ ngoài mà nảy sinh khinh thường, thế nhưng hắn có tài hùng biện, có thể khiến người nghe như tắm trong gió xuân, bất giác coi hắn là tri kỷ, dốc bầu tâm sự. Nhờ vào tuyệt kỹ khéo ăn khéo nói này, hắn từ một thuật sĩ giang hồ vô danh đã trở thành khách quý của không ít quyền quý tại Trường An.
Lý Tu Bạch chính là nhìn trúng tài ăn nói của Lý Hủ mà thu nạp hắn dưới trướng. Tuy nhiên, hắn không vội vàng sai phái quân cờ này ngay, mà an trí hắn tại quán Huyền Đô, bồi đắp cho hắn một hình tượng thoát tục, đạo pháp tinh vi.
Đợi đến khi danh tiếng của Lý Hủ vừa nổi, Lý Tu Bạch lại gắn liền thân thế của hắn với Thiếu Ông, vị phương sĩ truyền thuyết từng chiêu hồn cho Hán Vũ Đế, tuyên bố rằng Lý Hủ chính là hậu duệ của Thiếu Ông, mang trong mình bí thuật chiêu hồn dẫn phách độc quyền.
Chính vì thế, khi Lý Nghiễm bất chợt nảy ra ý định học theo chuyện cũ của Vũ Đế để chiêu hồn cho Trịnh Bão Chân, vị “hậu duệ Thiếu Ông” danh tiếng lẫy lừng kia tự nhiên trở thành lựa chọn duy nhất trong lòng ông ta.
Trong khoảng thời gian bị “xếp xó” tại đạo quán, Lý Hủ cảm thấy mình như ngọc quý bám bụi. Vài tháng trước, khi tin tử trận của Lý Tu Bạch truyền về Trường An, hắn cũng từng dao động, ngầm định tìm kiếm một chỗ dựa khác vững chắc hơn, chỉ vì trong thời gian ngắn chưa tìm được minh chủ mới, hắn mới đáp ứng Lão Vương phi, miễn cưỡng án binh bất động.
Lần này đột ngột nhận được thánh mệnh, sau cơn vui mừng, Lý Hủ chợt rùng mình nhớ lại “danh tiếng” mà Lý Tu Bạch đã dày công thêu dệt cho mình trước đó, lúc này mới bàng hoàng nhận ra vị Điện hạ này đã bày ra một ván cờ lớn đến nhường nào!
Bố cục thâm sâu, mưu tính chuẩn xác vượt xa tưởng tượng của hắn!
Nghĩ đến đây, sau lưng Lý Hủ chảy ròng ròng mồ hôi lạnh, thầm cảm thấy vô cùng may mắn vì khi tin dữ của Lý Tu Bạch truyền đến, hắn đã không vọng động. Nếu không, với thủ đoạn của vị Điện hạ này, hắn chắc chắn sẽ chết không có đất chôn thân.
Sau khi nhận được lệnh truyền triệu chính thức từ nội thị, Lý Hủ không dám chậm trễ mảy may, lập tức bẩm báo với Lý Tu Bạch để cung kính nghe lời chỉ thị.
Vẻ mặt Lý Tu Bạch lạnh lùng, chỉ đưa cho hắn một bình hương. Thứ hương đó được bào chế từ mạn đà la, nghe nói có thể khiến tâm thần mê loạn, dẫn dụ con người vào ảo giác. Sau đó, Lý Tu Bạch dặn dò qua loa vài câu về thuật ngữ then chốt và chi tiết nghi thức.
Lý Hủ đã tận mắt chứng kiến thủ đoạn thông thiên của Lý Tu Bạch, nào còn dám có nửa phần nghi ngờ? Hắn cung kính dùng hai tay nhận lấy, sau đó lui vào mật thất diễn tập đi diễn tập lại, dốc sức cầu mong không để xảy ra sơ suất.
Lý Tu Bạch đứng bên quan sát từng động tác, từng câu chữ, thậm chí là hình thái khói sương ảo ảnh của Lý Hủ. Cho đến khi xác nhận màn diễn này đủ sức làm giả thành thật, đủ để lấy lòng tin từ vị đế vương đa nghi kia, hắn mới cho phép Lý Hủ vào cung kiến giá.
*
Viện Bích Lệ
Tin tức việc nghênh đón Phật cốt bị đình trệ truyền đến, trong lòng Tiêu Trầm Bích nhẹ nhõm, bấm ngón tay tính toán vừa vặn là ngày thứ năm. Phải thừa nhận rằng, Lý Tu Bạch này quả thực có bản lĩnh.
Kết minh với hắn đúng là “song kiếm hợp bích”, vừa đỡ tốn tâm sức vừa hiệu quả, nếu đổi lại thành đám vô dụng ở Viện Tiến Tấu, e là phải tiêu tốn đến hai tháng trời.
Tâm tình nàng thư thái, đúng lúc này lại có thêm một chuyện vui tìm đến. Tỷ tỷ của Lý Tu Bạch là Hoa Dương Quận chúa Lý Thanh Nguyên và Thôi Đam sắp tổ chức tiệc thôi nôi cho nữ nhi vào ba ngày tới.
Là viên ngọc quý trên tay của Trường Bình vương phủ và Thanh Hà Thôi thị, tiệc sinh thần này định sẵn sẽ vô cùng hiển hách, vô số kẻ muốn nịnh bợ Lý Tu Bạch sớm đã sớm chuẩn bị, còn Tiêu Trầm Bích với danh nghĩa là cữu mẫu tự nhiên cũng phải chuẩn bị một phần hậu lễ.
Lý Thanh Nguyên trước đó từng nhiều lần chiếu cố nàng trong các yến tiệc, Tiêu Trầm Bích có ấn tượng cực tốt với nàng. Thêm nữa, ngày sinh của đứa trẻ kia lại trùng đúng vào ngày hai mươi tháng Tư, cũng chính là sinh nhật nàng, khiến nàng cảm thấy vô cùng có duyên, bèn sẵn lòng bỏ chút tâm tư.
Nàng đặc biệt sai Sắt La đến Viện Tiến Tấu trích ra một khoản bạc lớn để chuẩn bị lễ vật. Dù sao Viện Tiến Tấu cũng quản lý tiền công, số tiền này vốn dĩ phải nộp vào tay thúc phụ nàng, tội gì mà không tiêu. Lý do tặng lễ lại danh chính ngôn thuận, An Nhâm những ngày này kinh doanh rất có thành tựu, không những không từ chối mà còn đưa thêm cho nàng một ít.
Tiêu Trầm Bích cùng Lý Nhữ Trân đi đến chợ Đông để chọn quà cho con của Lý Thanh Nguyên. Nàng vốn giỏi nhất là nắm bắt lòng người, nghe nói đứa trẻ kia thể trạng yếu ớt nên đặc biệt đến lầu Bảo Điền danh tiếng nhất để chọn một chiếc khóa trường mệnh bằng vàng ròng nặng trịch. Lý Nhữ Trân thì mua một miếng ngọc ấm áp hiếm có, cũng là hạng thượng phẩm.
Chuyện bọn họ ra ngoài, Hồi Tuyết đều báo cáo tỉ mỉ không sót một chi tiết nào cho Lý Tu Bạch. Buổi tối khi trở về Viện Bích Lệ, Lý Tu Bạch nói theo lệ công sự: “Tiêu tốn bao nhiêu, nàng tự mình đến trướng phòng mà rút.”
Lúc ấy Tiêu Trầm Bích đang súc miệng chải đầu, thuận miệng đáp: “Không cần đâu. Đứa trẻ đó sinh cùng ngày với ta, lễ này coi như là tấm lòng riêng của ta dành cho nó.”
Lý Tu Bạch đứng sau bức bình phong nhìn bóng hình mờ ảo của nàng, giọng nói ngập ngừng hiếm thấy: “Sinh nhật của nàng… cũng là ngày hai mươi tháng Tư?”
Khóe môi Tiêu Trầm Bích nhếch lên một độ cong tự giễu: “Phải đấy. Chỉ là không có số tốt như tiểu chất nữ kia của ngài, được nhiều người tranh nhau chúc mừng đến vậy.”
Lý Tu Bạch liếc nhìn bóng lưng nàng rồi không nói gì nữa, trong phòng chỉ còn lại tiếng nến cháy lách tách.
Tiêu Trầm Bích cũng không thấy bản thân đáng thương, chỉ là có chút tiếc nuối. Những năm trước ở Ngụy Bác, mẫu thân luôn nấu cho nàng một bát mì trường thọ vào ngày sinh nhật, năm nay coi như không có cái phúc đó rồi. Nàng lắc đầu, gạt bỏ chút hoài niệm không đúng lúc kia, tự mình nằm xuống an giấc.
Thế nhưng, đêm nay, Tiêu Trầm Bích vốn thích gây sự lại ngủ rất ngon, còn Lý Tu Bạch xưa nay vốn trầm tĩnh lại trằn trọc khó ngủ. Ánh trăng ngoài cửa sổ thanh lãnh, sáng một cách bất thường.
Chắc chắn là tại ánh trăng này quấy nhiễu tâm trí.
Sáng sớm hôm sau, hắn sa sầm mặt mũi sai tỳ nữ thay tấm rèm trúc bên cửa sổ bằng loại lụa vân sa dày dặn hơn. Tiêu Trầm Bích chẳng hiểu ất giáp gì, chỉ coi như hắn lại phát tính tình kỳ quái định kỳ, dù sao nàng cũng không ngủ bên cửa sổ nên lười chẳng buồn quan tâm.
Vụ án lá trà được Lý Tu Bạch xử lý vô cùng kín kẽ không một khe hở, khiến Thánh thượng vui mừng, không tiếc lời khen ngợi ngay giữa triều đường.
Trong phút chốc, danh tiếng của Lý Tu Bạch vang dội khắp kinh thành, không ai bì kịp. Ngay cả Thượng thư Thôi Đam là tỷ phu của hắn cũng được thơm lây, cửa phủ nườm nượp người ra kẻ vào. Dù tiệc sinh thần của ái nữ nhà họ Thôi còn chưa tới, nhưng quà cáp chúc mừng đã chất cao như núi.
Tan triều, Thôi Đam cảm thấy việc này vô cùng hóc búa, bèn đặc biệt tới tìm Lý Tu Bạch hỏi cách xử trí. Thế nhưng, vị Vương gia vốn dĩ luôn nhạy bén ấy, lúc này lại hiếm hoi có chút lơ đãng.
Phải đợi đến khi Thôi Đam gọi khẽ hai tiếng, hắn mới bừng tỉnh, giọng nói khôi phục vẻ trầm tĩnh vốn có: “Thánh nhân vốn tính đa nghi, lúc này không nên quá phô trương. Nhạc huynh nên khéo léo khước từ thì hơn.”
Thôi Đam vốn xuất thân từ danh gia vọng tộc, thanh cao tự khiết, tuyệt đối không phải kẻ tham luyến chút lợi nhỏ này, nghe vậy lập tức gật đầu đồng ý.
Sau khi Thôi Đam rời đi, hai chữ “sinh thần” cứ quanh quẩn trong tâm trí Lý Tu Bạch mãi không tan.
Trên đường từ Hộ bộ trở về vương phủ, xe ngựa vừa vặn đi ngang qua chợ Đông, khi nhìn thấy tấm biển hiệu của Bảo Điền Lâu, hắn bỗng nhiên cất lời: “Dừng xe.”
Thị vệ Lưu Phong cứ ngỡ điện hạ muốn đích thân chọn quà cho tiểu chất nữ, một lát sau khi hắn bước ra, trên tay lại cầm tới hai chiếc hộp gấm. Lưu Phong cũng chẳng nghĩ ngợi nhiều, chỉ thầm đoán chắc hẳn chiếc hộp dư ra kia là dành cho Hoa Dương quận chúa.
*
Đêm xuống, tại Viện Bích Lệ.
Tối nay Lý Tu Bạch về sớm hơn lệ thường. Hắn đang tay cầm quyển sách, nhàn nhã đọc dưới ánh đèn dầu, bộ trung y màu đen huyền càng tôn lên nước da trắng lạnh cùng khí chất tôn quý, xa cách của hắn.
Tiêu Trầm Bích không tự chủ được mà liếc nhìn thêm một cái, trong lòng thầm thắc mắc: Thường ngày người này vẫn chê nàng ồn ào, toàn đợi đến lúc chuẩn bị đi ngủ mới về phòng, hôm nay sao lại lạ lùng thế này?
Chẳng lẽ là vì ngày mai phải đi dự tiệc?
Nàng cũng không nghĩ ngợi sâu xa, dự cảm tiệc sinh thần ngày mai sẽ rất mệt mỏi nên bắt đầu tháo dỡ trâm cài, chuẩn bị đi ngủ sớm.
Thế nhưng, khi ánh mắt lướt qua hộp trang điểm, động tác của nàng bỗng khựng lại. Nàng nhìn thấy một chiếc trâm bạch ngọc lạ lẫm đang nằm lặng lẽ bên cạnh những món trang sức của mình.
Nàng cầm chiếc trâm lên, đột ngột xoay người, cất giọng chất vấn: “Lý Tu Bạch, trâm của ai đây? Chẳng lẽ ngài dám đưa nữ nhân khác về phòng này làm chuyện bậy bạ? Ta mặc kệ bên ngoài ngài trăng hoa thế nào, nhưng ta là kẻ ưa sạch sẽ, căn phòng này tuyệt đối không thể có nữ nhân thứ hai đặt chân vào!”
Bàn tay đang cầm sách của Lý Tu Bạch khựng lại, hắn không ngờ nàng lại phản ứng gay gắt như vậy, sắc mặt lập tức lạnh xuống: “Quận chúa nghĩ nhiều quá rồi. Chẳng qua thấy nàng tốn kém chuẩn bị lễ vật, ta tặng lại một món để đôi bên sòng phẳng, không ai nợ ai mà thôi.”
Tiêu Trầm Bích lúc này mới nhận ra mình đã hiểu lầm, ngượng ngùng ngồi trở lại chỗ cũ.
“Thế thì cũng tại ngài, ai bảo không nói cho rõ ràng?”
Nàng ngồi trước bàn trang điểm, đưa lưng về phía hắn, nhưng vành tai đã hơi ửng hồng vì xấu hổ.
Thời gian qua Lý Tu Bạch đã quá quen với cái tính “ngang ngược, không lý cũng phải đòi cho bằng được” của nữ nhân này, nghe vậy chỉ lạnh lùng xoay người đi về phía thư phòng.
Đợi hắn đi rồi, Tiêu Trầm Bích mới bắt đầu tỉ mỉ quan sát chiếc ngọc trâm trong tay. Nàng vốn là người có mắt nhìn, vừa chạm vào đã thấy chất ngọc mịn màng không chút tì vết, giá trị của nó so với chiếc khóa bình an bằng vàng ròng của nàng còn quý trọng hơn gấp bội.
Lý Tu Bạch mà lại tốt bụng tặng quà đáp lễ cho nàng sao?
Tuyệt đối không có khả năng.
Người này tâm cơ thâm trầm, tám phần là mượn danh nghĩa tặng quà để giấu cơ quan trong chiếc trâm này đây. Chỉ cần nàng nảy sinh dị tâm, món đồ này chắc chắn sẽ lấy mạng nàng ngay tại chỗ.
Nghi ngờ vừa xuất hiện, Tiêu Trầm Bích liền đưa chiếc trâm lại gần ánh nến, ngón tay mơn trớn kỹ lưỡng từng tấc một từ thân trâm, đầu trâm cho đến đuôi trâm, cố gắng tìm ra bất kỳ khe hở hay lỗ nhỏ nào được che giấu.
Thế nhưng, chẳng có gì cả.
Chất ngọc hoàn mỹ tự nhiên, ấm áp mà cứng cáp.
Có lẽ… không phải cơ quan, mà hắn đã dùng thủ đoạn kín kẽ hơn, phong ấn độc dược vào sâu trong lõi trâm?
Nghĩ đoạn, nàng lấy một chiếc khăn gấm lót trên bàn, cầm lấy trâm ngọc không chút do dự mà gõ mạnh vào cạnh bàn.
“Rắc!”
Sau một tiếng động thanh thúy, chiếc bạch ngọc trâm đắt giá gãy làm đôi.
Tuy nhiên, không có độc dược, không có lò xo cơ quan, cũng chẳng có ngăn bí mật nào hết. Không có gì cả.
Bên trong thân trâm bị gãy là khối ngọc dương chỉ trắng muốt, thuần khiết và đặc quánh, mịn màng như mỡ đông, thậm chí còn mang theo vẻ “vô tội” đến lạ kỳ.
Lần này, Tiêu Trầm Bích thực sự sững sờ.
Chẳng lẽ đúng là nàng đã “lấy lòng tiểu nhân đo lòng quân tử”?
Một luồng cảm xúc phức tạp dâng lên trong lòng nàng, lẫn lộn giữa kinh ngạc, nực cười và cả một chút hối hận mà chính nàng cũng chẳng hề hay biết.
Đúng lúc này, từ khóe mắt, nàng bỗng thoáng thấy trên mặt đất xuất hiện một bóng người cao gầy đang lặng lẽ đứng đó.
Nàng quay đầu lại thấy Lý Tu Bạch chẳng biết quay về từ lúc nào, cũng không rõ hắn đã đứng đó bao lâu.
Bộ trung y màu đen gần như hòa làm một với màn đêm đặc quánh sau lưng, gương mặt hắn không chút biểu cảm, nhưng đôi mắt lại thâm trầm như màn đêm vĩnh hằng, đang lặng lẽ đóng đinh vào chiếc trâm ngọc gãy nát trong tay nàng.
Tiêu Trầm Bích bỗng cảm thấy chột dạ chưa từng có, theo bản năng muốn giấu đi món đồ đã hỏng.
***