Tuyết đốt Trường An – Chương 25

Chương 25

***

Sau khi mua xong cái thứ quái quỷ kia, Tiêu Trầm Bích kéo rủ mành the của chiếc mũ rèm, cất bước lên xe ngựa.

Sắt La tuy thân thủ cao cường, nhưng tâm tư lại thô kệch, hoàn toàn không phát giác ra sắc mặt kỳ lạ của Tiêu Trầm Bích, chỉ cúi đầu bẩm báo: “Quận chúa, Lục tiên sinh kia nói ngày mai muốn đến Phật tự cầu phúc, An phó sứ sai nô tỳ hỏi ý ngài, liệu có đồng ý hay không?”

“Ngày mai?” Tiêu Trầm Bích cau mày, “Ngày mai Lão Vương phi cũng sẽ đến chùa Đại Từ Ân làm pháp sự cho Lý Tu Bạch.”

Sắt La giật mình kinh hãi: “Vậy… lẽ nào lại đụng mặt nhau sao? Thân phận này của ngài mà bại lộ thì không xong đâu.”

Tiêu Trầm Bích đương nhiên không để chuyện này xảy ra, nàng trầm ngâm giây lát: “Lão Vương phi đến chùa Đại Từ Ân, vậy thì không cho phép hắn bén mảng tới đó là được. Còn nữa, lúc hắn xuất phủ bắt buộc phải đội mũ rèm, thêm vào đó phái người bám sát hắn, ngoài sáng ba người, trong tối ba người. Nơi hắn đến cũng không được quá xa, nhất định phải nằm trong phạm vi khống chế của chúng ta. Tóm lại, tuyệt đối không được lơ là.”

Quy củ hà khắc đến vậy, xuất phủ mà cũng chẳng khác nào bị cấm túc, Lục tiên sinh nếu biết được e là sẽ vội vàng dập tắt ý định ngay thôi.

Sắt La thầm than trong bụng, nhưng ngoài miệng lại chẳng dám nói thêm lời nào.

Lời truyền đến tai Lý Tu Bạch, hắn trầm ngâm trong chốc lát, nhưng cũng chẳng hề tỏ ra bực dọc, chỉ khẽ mỉm cười: “Quận chúa đề phòng người quá mức rồi. Tại hạ chẳng qua cũng chỉ là một thư sinh trói gà không chặt, chỉ muốn đến thắp nén nhang cho song thân đã khuất mà thôi. Nếu Quận chúa đã kiêng dè, vậy tại hạ đổi sang chùa Tiến Phúc ở ngay gần đây là được, không biết ý Quận chúa thế nào?”

Thái độ vô cùng bình thản, chẳng hề giấu giếm nửa lời.

An phó sứ nghe không phải đến chùa Đại Từ Ân thif sảng khoái đồng ý ngay: “Được, ngươi cứ đi đi.”

Dứt lời, hawns ta liền bắt tay vào sắp xếp chuyện này cho Tuệ Không.

*

Phủ Trường Bình vương.

Sáng sớm hôm sau, Tiêu Trầm Bích mang theo bản kinh Vãng Sanh đã chép xong, chực chờ từ sớm ở An Phúc Đường, định bụng sẽ tháp tùng Lão Vương phi đến chùa Đại Từ Ân.

Nào ngờ trước lúc khởi hành, Lão Vương phi day day mi tâm, chợt thay đổi chủ ý: “Sáng nay ta nằm mộng thấy A lang, y phục trắng muốt nhuốm đầy máu tươi vẻ mặt nghiêm túc khiến cõi lòng ta đau như dao cắt. Nó bỏ mạng ở Hà Sóc, nơi ấy nhiều tăng nhân người Hồ, nghe đồn Hồ tăng ở chùa chùa Tiến Phúc xướng Hồ bối vô cùng êm tai. Đã như vậy, chúng ta đổi sang chùa Tiến Phúc làm pháp sự đi.”

Vừa nghe thấy ba chữ “chùa Tiến Phúc”, Tiêu Trầm Bích hoảng hốt ngước mắt lên, trên khuôn mặt vốn dĩ đang tỏ vẻ nhu thuận ngoan hiền thoáng chút hoảng hốt.

Lão Vương phi dò xét nhìn nàng: “Sao thế, chùa Tiến Phúc có chỗ nào không ổn à?”

Tiêu Trầm Bích vội vã cụp mắt che giấu: “Dạ không, thiếp thân… chỉ là sực nhớ ra hôm nay là kỳ Đại pháp hội ở chùa Tiến Phúc, biển người tấp nập, e là sẽ mạo phạm đến tôn giá của bà mẫu.”

Lão Vương phi lần tràng hạt trên tay, nhạt giọng: “Không sao. Người đông một chút, hương hỏa càng thêm vượng.”

Tiêu Trầm Bích không tiện ngăn cản thêm nữa, trong lòng nóng như lửa đốt.

Nhưng nàng xưa nay vốn là người trầm tĩnh, khi xe ngựa lăn bánh đến trước cổng chùa Tiến Phúc, nàng nảy ra một kế, mượn cớ sai Sắt La đi sắp xếp chút chuyện lặt vặt để nàng ta xuống xe trước.

Sắt La tay chân nhanh nhẹn, rảo bước vội vã tìm đến Tuệ Không, nhắc nhở nhất định phải sắp xếp cho Lục tiên sinh và đoàn người của Lão Vương phi đi tránh đường nhau, kẻo người này lại ăn nói hàm hồ trước mặt Lão Vương phi.

Tuệ Không nghe xong cũng cuống cuồng cả lên: “Sao lại trùng hợp đến thế? Nhưng người của Viện Tiến Tấu vừa mới đến báo, Lục tiên sinh đang được dẫn đường đi về phía bên này, chẳng phải là sắp đụng độ nhau rồi sao?”

Sắt La vừa nghe vậy thì co cẳng chạy như bay về hướng cửa hông mà Tuệ Không vừa chỉ, rốt cuộc nàng ta cũng cản được đám Nha binh đang dẫn đường cho Lục tiên sinh ngay vào khoảnh khắc hắn vừa bước qua cổng.

Nàng ta kéo Nha binh lánh sang một bên, hạ thấp giọng, dùng tiếng Tà Đặc gấp gáp dặn dò.

Nha binh lập tức hiểu rõ sự tình nghiêm trọng.

Tuy Lý Tu Bạch chưa từng gặp mặt Sắt La, nhưng hắn vốn tinh thông ngôn ngữ của nhiều vùng miền, tiếng Tà Đặc đương nhiên nằm trong số đó, chỉ cần nghiêng tai nghe ngóng hắn đã nắm bắt được đại khái sự việc.

Thì ra nhà phu quân của Tiêu Trầm Bích hôm nay cũng đến chùa Tiến Phúc này dâng hương bái Phật, nàng ta không muốn để hắn đụng mặt bọn họ.

Vẻ mặt hắn vô cùng bình thản, cứ xem như chưa từng nghe thấy gì.

Lúc này Nha binh quay lại, nói rằng Phật đường đông người phức tạp, mời Lý Tu Bạch tạm thời chờ đợi.

Ánh mắt Lý Tu Bạch lướt qua, lập tức phát hiện ngoài ba tên Nha binh ở ngoài sáng, còn có ba kẻ bám theo trong tối.

Sáu người vây quanh bám sát, quả thực cực kỳ khó thoát thân.

Ánh mắt hắn lạnh lùng xa cách, thản nhiên mỉm cười: “Được.”

Đến lúc này, Sắt La mới yên tâm rời đi.

Nàng ta lóc cóc chạy một mạch trở về, vừa vặn bắt gặp Tiêu Trầm Bích đang bước xuống xe ngựa, bèn lật đật sải bước tiến lên dìu đỡ.

Lý Nhữ Trân liếc nhìn một cái, cất giọng quở trách: “Chân cẳng sao mà chậm chạp thế hả! Tẩu tẩu đang mang thai, lỡ không có người dìu đỡ mà té ngã thì biết tính sao?”

Sắt La thầm nghĩ chân cẳng mình đã thuộc hàng cực nhanh, chưa đầy một khắc đồng hồ đã chạy đi chạy lại chùa Tiến Phúc một vòng.

Tiêu Trầm Bích vội lên tiếng giải vây cho nàng ta: “Không sao, là ta sai nàng ấy đi dò đường trước.”

Lý Nhữ Trân vốn không phải người cay nghiệt, nghe vậy cũng thôi không tính toán nữa.

Sắt La tránh ánh mắt mọi người, âm thầm nháy mắt ra hiệu cho Tiêu Trầm Bích.

Tiêu Trầm Bích hiểu ý, xem ra hai bên đã tránh được mặt nhau. Trận sóng gió này coi như tạm yên, trái tim đang đập thình thịch của nàng mới thoáng bình ổn lại đôi chút, song nàng vẫn chẳng dám lơi lỏng cảnh giác, chỉ sợ tên họ Lục kia lại sinh thêm cớ sự.

Đoàn người được trụ trì đích thân dẫn vào chùa Tiến Phúc.

Tiến đến đại điện, chuyện này chưa qua chuyện khác đã ập tới.

Lão Vương phi đột nhiên điểm danh gọi Tiêu Trầm Bích bước lên, nói rằng ngày thường nàng vẫn hay đến chùa Tiến Phúc tụng kinh cầu phúc cho Lý Tu Bạch, ắt hẳn lĩnh ngộ sâu sắc, bèn sai nàng giảng giải bộ kinh Vãng Sanh cho mọi người cùng nghe.

Tiêu Trầm Bích nào có thật sự làm pháp sự cho Lý Tu Bạch bao giờ? Chẳng qua chỉ là mang cái hư danh mà thôi.

May thay nàng vốn thông tuệ, trong bảy ngày túc trực bên linh cữu bị ép nghe không ít, dựa vào trí nhớ hơn người mà cố kiềm chế chậm rãi cất lời giảng giải, vậy mà đưa được mọi người chìm đắm vào nghĩa kinh, bình an vượt qua cửa ải này.

Xong xuôi đâu đấy, Tiêu Trầm Bích mới nhận ra sau lưng áo đã rịn một tầng mồ hôi mỏng.

Cùng lúc đó, Lý Tu Bạch đang bị đám Nha binh canh chừng, phải nán lại chờ đợi ở một khu vườn nhỏ cạnh cửa hông.

Đã hơn nửa tháng trôi qua, đây mới là lần đầu tiên hắn bước chân ra khỏi chốn giam cầm chật hẹp ở sương phòng phía tây Viện Tiến Tấu.

Bầu trời xanh biếc đã lâu không thấy, những cành hoa đương độ bung nở, thân thể được tự do quả thực thoải mái biết bao.

Cách đó không xa, vẫn có thể nghe thấy từng hồi chuông trống, khánh ngọc vẳng lại từ phía đại điện, hắn thầm đoán hẳn là Tiêu Trầm Bích đang cùng nhà phu quân làm pháp sự.

Nếu có thể, hắn cực kỳ sẵn lòng bước tới xé toạc lớp mặt nạ giả tạo của nữ nhân này.

Thế nhưng sáu tên Nha binh canh gác gắt gao bên cạnh quyết không cho hắn cơ hội nào.

Có điều lần này Lý Tu Bạch nhọc lòng mưu tính ra ngoài vốn dĩ không phải để bỏ trốn hay gây thêm rắc rối, việc hắn muốn làm đơn thuần chỉ là khảo sát địa hình.

Cứ dăm ba ngày Tiêu Trầm Bích lại lui tới Viện Tiến Tấu một bận, cho dù là đi vào bằng cửa nào, thì hành vi của một phụ nhân như vậy đều vô cùng rầm rộ, rất dễ bại lộ danh tính.

Cho nên, hắn phỏng đoán Tiêu Trầm Bích vào Viện Tiến Tấu không phải qua lối cổng thông thường, mà mượn đường qua một loại mật đạo nào đó.

Viện Tiến Tấu của Ngụy Bác nằm san sát các Viện Tiến Tấu khác, đi qua đường viện của nhà khác đương nhiên không ổn. Vậy lối vào khả dĩ nhất, chắc chắn nằm ở chùa Tiến Phúc ngay vách bên cạnh.

Suy cho cùng, Thiên tử sùng bái Phật pháp, bách tính Trường An cũng thích lễ Phật, một phụ nhân cứ dăm bữa nửa tháng lại ra vào Viện Tiến Tấu ắt rước lấy dị nghị, nhưng nếu ra vào cửa thiền thì chẳng ai đoái hoài nghi kị gì.

Chính vì lẽ đó, lần này khi được phép ra ngoài, Lý Tu Bạch đã cố ý chọn chùa Tiến Phúc, mục đích thực sự chính là mượn cơ hội này tìm kiếm cửa vào mật đạo, dọn đường rút lui cho tương lai.

Khi nghe hắn chọn địa điểm này, An phó sứ rõ ràng đã thở phào nhẹ nhõm, hiển nhiên hắn đã đoán trúng, bọn chúng có cài cắm tai mắt ở đây, và e là có mật đạo thật.

Men theo cửa hông đi thẳng vào chùa Tiến Phúc, có một tăng nhân người Hồ với đôi mắt xanh lục đến tiếp dẫn, xem chừng gã tăng nhân người Hồ này chính là tay sai của Ngụy Bác.

Đứng đợi một hồi lâu, mặt trời dần ngả bóng xế trưa, nữ tử nói tiếng Tà Đặc kia lại lóc cóc chạy tới ra hiệu, gã tăng nhân mới chịu dẫn hắn bước tiếp.

Lý Tu Bạch đoán đoàn người nhà phu quân của Tiêu Trầm Bích đã rời đi rồi.

Gia đình nhà ấy rốt cuộc là ai? Hắn không khỏi âm thầm suy ngẫm.

Có thể làm pháp sự ngay tại đại điện của chùa Tiến Phúc ắt hẳn phải là một thế gia danh giá.

Tuy nhiên, đất Trường An vốn dĩ thế gia như nấm, quý tộc như mây, nước hồ Khúc Giang mà dâng lên một bận e là cũng đủ nhấn chìm hàng trăm vị quý nhân, thật sự chẳng thể nào đoán định cho chính xác được.

Lý Tu Bạch không truy cứu thêm mà lẳng lặng theo chân gã tăng nhân người Hồ đi qua con đường mòn hiu quạnh để vào một gian Phật đường, sau đó thản nhiên rút nhang, châm lửa, làm điệu bộ tế bái thành kính.

Giữa làn khói hương nghi ngút, ánh mắt hắn lướt qua toàn bộ gian phòng, âm thầm dò xét những nơi có thể là lối vào mật đạo.

Phật đường này vốn không lớn, ngoài một bức tượng Phật thếp vàng, bốn cây cột đỏ cùng một chiếc hương án và một tấm bồ đoàn ra thì chẳng còn vật gì khác. Thế nhưng trong số những vật phẩm này, duy chỉ có bàn tay phải của bức đại tượng Phật kia là hơi có điểm kỳ quái, nó bị tróc mất một mẩu sơn.

Xem chừng, đó là vết tích do thường xuyên có người chạm vào.

Chuyện này quả thực lạ lùng. Hai bên trái phải của tượng Phật vốn chẳng có gì khác biệt, cớ sao duy chỉ có bàn tay phải lại tróc sơn? Bàn tay phải này, e rằng chính là cơ quan để mở mật đạo.

Ánh mắt hắn lơ đãng lướt ngang qua, mới chỉ dừng lại trên pho tượng Phật một khoảnh khắc ngắn ngủi, quả nhiên gã tăng nhân nọ lập tức nghiêng người, khéo léo chắn tầm nhìn của hắn: “Thí chủ chỉ dâng hương thôi sao? Tiết Thanh minh sắp đến rồi, không cần hóa ít tiền giấy ư?”

Lý Tu Bạch dời ánh mắt đi, mỉm cười nhạt: “Nếu được vậy thì còn gì bằng.”

Thế là, gã tăng nhân lại mang đến cho hắn một ít tiền giấy.

Sau đó, Lý Tu Bạch tỏ ra vô cùng an phận, hắn thắp nhang xong lại hóa giấy tiền rồi cũng không đưa ra thêm yêu cầu nào khác, cứ thế theo chân bọn họ trở về.

Chỉ có điều, ngay vào khoảnh khắc một lần nữa đặt chân vào Viện Tiến Tấu, hắn chợt dừng bước, nhìn về phía phố phường đã lâu không gặp, ánh mắt lưu luyến thêm một hồi lâu.

*

“Chỉ thế thôi sao?”

Khang Tô Lặc nghe xong lời bẩm báo của Nha binh về mọi hành vi của họ Lục trong vòng một canh giờ, không khỏi cảm thấy hơi kinh ngạc.

“Chỉ có thế.” Nha binh thành thật đáp lời.

Bên cạnh, An Nhâm hừ lạnh một tiếng: “Không phải ngươi vốn căm ghét người ta, muốn tóm gáy người ta đó sao? Đáng tiếc, Lục tiên sinh lại là người vô cùng thức thời, một bước cũng chẳng hề đi sai, nói gì đến chuyện bỏ trốn!”

Tâm tư bị vạch trần, Khang Tô Lặc lạnh lùng bỏ đi.

Chuyện ở chùa Tiến Phúc quả thực là một phen kinh hồn bạt vía.

Tiêu Trầm Bích suýt chút nữa bại lộ thân phận, trong lòng thầm nghĩ, lẽ nào Lý Tu Bạch vì cái “nón xanh” này mà phật ý, nên mới cố ý hiển linh để ngáng chân nàng?

Nếu quả thực là vậy hắn quả thật là hẹp hòi quá mức!

Ý nghĩ này cứ luẩn quẩn mãi không thôi, khiến đêm ấy nàng thực sự nằm mộng thấy người này.

Trong mơ, gương mặt Lý Tu Bạch mờ ảo, nhưng duy chỉ có chiếc nón trên đầu là xanh đến mức chói mắt.

Tiêu Trầm Bích không nhịn được, bật cười thành tiếng, khiến Lý Tu Bạch trong cơn giận dữ đã vươn một tay bóp chặt lấy cổ nàng, lạnh lùng chất vấn: “Tiêu Trầm Bích, ngươi cố ý muốn sỉ nhục bản vương sao? Cả cái chuyện trong bữa tiệc kia cũng là do ngươi tung tin phải không?”

Tiêu Trầm Bích bị hắn bóp cổ đến mức gần như nghẹt thở, nhưng trong lòng lại nảy sinh khoái cảm lạ lùng, nàng cất giọng cười nhạo đầy khiêu khích: “Là ta thì đã sao? Ngươi đã chết rồi, còn có thể làm gì được ta?”

Lời này càng chọc giận Lý Tu Bạch, oán khí khiến hắn hóa thành lệ quỷ, siết chặt lấy cổ nàng.

Tiêu Trầm Bích suýt chút nữa là tắt thở, nàng giật mình bật dậy trên giường.

Trông ra cửa sổ, sắc trời xanh đen, những vì tinh tú chưa kịp lặn hẳn. Mồ hôi lạnh thấm đẫm tấm áo ngủ mỏng manh, nàng không còn tâm trí đâu để ngủ tiếp, bèn dứt khoát đứng dậy, đi đến trước linh vị của Lý Tu Bạch, vô cùng “thành tâm” mà thắp ba nén nhang.

Trong làn khói hương nghi ngút, nàng nhìn tấm bài vị, lời lẽ đầy tâm huyết mà khuyên nhủ: “Lý Tu Bạch, nghe ta khuyên một câu, đã làm ma ấy à, quý nhất là ở chỗ rộng lượng.”

“Đằng nào cũng là ma rồi, còn phân biệt làm gì nón đen với nón xanh? Có cái để đội vẫn còn tốt hơn đám cô hồn đúng không nào?”

“Nếu ngươi chịu yên ổn một chút, sau này ta nhất định sẽ dâng nhiều đồ cúng hơn cho ngươi, để ngươi sớm ngày về cõi cực lạc, được không?”

Vừa nói, tay chân nàng vừa thoăn thoắt thay đồ cúng tế, đang mùa hồ đào, nàng đặc biệt chọn lấy hai quả căng tròn bóng bẩy nhất, đặt vững chãi lên đĩa.

Nghe những lời quái gở này, đến cả Sắt La cũng không tài nào lọt tai cho nổi, nhưng Tiêu Trầm Bích lại thấy vô cùng có lý, nàng liếc nhìn cái bọc túi ruột dê một cái, thầm cảm thán bấy nhiêu đây thì đã thấm tháp vào đâu?

Chẳng may nàng mang thai thật, còn để đứa con này mang danh thế tử Trường Bình vương mà kế thừa vương phủ, Lý Tu Bạch chắc sẽ tức tới mức bật nắp quan tài, bò từ dưới địa phủ lên mất?

Nhưng khi nhắm mắt lại, công tâm mà nói, nàng chẳng hề muốn mang thai.

Thứ nhất, là do nỗi sợ hãi từ thuở trước. Nàng đã tận mắt chứng kiến mẫu thân lúc sinh đệ đệ lâm vào cảnh “thập tử nhất sinh”, thấu hiểu việc nữ nhân sinh nở chẳng khác gì bước qua quỷ môn quan. Nàng vốn quý mạng mình, lại còn phải cứu mẫu thân, lẽ nào lại đi đánh cược mạng sống vì một đứa con do bị cưỡng bức mà có?

Thứ hai, là vì hiện tại vẫn chưa đến bước đường cùng. Nàng xưa nay vốn gan góc lại tâm cơ, bình tĩnh tính toán kỹ lưỡng tình cảnh của mình, hiện giờ cái thai giả này mới được hai tháng, ít nhất phải ba bốn tháng mới lộ bụng. Nói cách khác, nàng vẫn còn hơn một tháng để xoay xở. Chỉ cần trong thời gian này tìm được cách thoát thân, nàng sẽ không phải thực sự dạo bước qua quỷ môn quan.

Nếu như thực sự không thể dứt ra, bị Viện Tiến Tấu phát hiện nàng uống thuốc tránh thai, lúc ấy nàng lại mang thai một đứa khác là được.

Chính nhờ những suy tính trùng trùng ấy mà Tiêu Trầm Bích mới dám hành sự như vậy. Tất nhiên thời gian dành cho nàng thực sự không còn nhiều, trong vòng một tháng này nhất định phải tìm cách liên lạc được với Triệu Dực. Thế là, Tiêu Trầm Bích dồn toàn bộ tâm trí lên người Hàn Ước, nhược điểm của kẻ này sẽ trở thành chỗ dựa lớn nhất để nàng lật ngược thế cờ.

Đang lúc trầm tư suy tính cách tiếp cận Hàn phu nhân, mặt trời đã dần lên cao, cũng đến lúc phải tới An Phúc Đường thỉnh an.

Thân phận góa phụ mới tang chồng cùng người con dâu hiếu thảo này vẫn cần phải diễn cho tròn vai. Nàng rửa mặt chải chuốt, lông mày không vẽ lại, môi không điểm son, chỉ dùng một chiếc trâm bạc trơn búi thấp mái tóc, rồi khoác lên mình bộ xiêm y màu trắng trăng thanh nhã, dáng vẻ mong manh thoát tục bước ra khỏi cửa.

Nàng chẳng thể ngờ được rằng, chính từ đây, nàng sẽ tìm thấy một bước ngoặt mới.

Chuyện này phải kể từ lúc Lão Vương phi đi chùa Tiến Phúc làm pháp sự.

Trước khi đi, Lão Vương phi từng nhắc qua một câu rằng Lý Thanh Nguyên đã về Thanh Châu tế tổ. Thanh Châu cách Trường An không quá năm châu, theo dự tính ban đầu thì Lý Thanh Nguyên có thể kịp về dự pháp sự của Lý Tu Bạch. Nào ngờ chẳng những lỡ mất buổi lễ, mà nàng ta còn về muộn tới tận ba ngày.

Ngày thứ hai sau khi về nhà, Lý Thanh Nguyên dẫn theo tiểu nữ nhi về vương phủ thăm hỏi.

Lúc ấy, Tiêu Trầm Bích đang thỉnh an Lão Vương phi, sau khi tấm rèm lay động, Lý Thanh Nguyên ung dung cất bước đi vào.

Hôm nay nàng ta búi tóc cao, diện một bộ váy bằng gấm dệt chỉ vàng màu cánh gián, khoác dải lụa choàng thêu chỉ bạc, toát lên phong thái của bậc quý phụ thế gia. Tuy nhiên, vẻ đoan trang lệ chất ấy lại bị phá hỏng bởi một vết thương mới còn rướm máu, dài chừng một thốn trên má trái.

Tiêu Trầm Bích ngẩn người, còn Lão Vương phi thì trực tiếp đứng bật dậy.

“A Nguyên! Mặt con sao lại bị thương thế kia?”

“Không sao đâu A nương, chỉ là một vết trầy xước thôi. Trên đường về Trường An gặp phải bạo dân làm loạn, con vô tình bị quẹt trúng một nhát.” Lý Thanh Nguyên giải thích.

Lão Vương phi nhíu chặt đôi mày liễu: “Bạo dân? Rốt cuộc là có chuyện gì?”

Lý Thanh Nguyên gọi nhũ mẫu bế Bảo tỷ nhi mới gần một tuổi đi chỗ khác, bấy giờ mới hạ giọng kể chi tiết.

Theo kế hoạch ban đầu, nàng vốn dĩ có thể kịp về dự pháp sự của A đệ, nào ngờ khi đi ngang qua vùng Hoài Nam, đột nhiên gặp phải lưu dân làm loạn, vây đánh thuyền vận tải.

Lương gạo từ thuyền vận tải chuyển về Trường An đều bị cướp bóc sạch sành sanh, các thuyền bè khác trên sông cũng bị chặn đứng, ngay cả thuyền của Thanh Hà Thôi thị cũng bị vây hãm trong đó.

Đám lưu dân sau khi cướp sạch thuyền vận tải lại bắt đầu dòm ngó tài vật trên những con thuyền khác.

Giữa cảnh hỗn loạn ấy, Lý Thanh Nguyên bước ra khỏi khoang thuyền, đứng đầu mạn thuyền trấn an lưu dân, bày tỏ ý nguyện sẵn lòng đem hết tiền bạc trên người ra phân phát.

Những lưu dân kia cũng không hẳn toàn hạng người xấu, dường như vì lâm vào bước đường cùng, trong cơn phẫn uất cùng cực mới làm chuyện liều lĩnh. Thấy Lý Thanh Nguyên chủ động giao ra tài vật, bọn họ quả thực không hề động thủ với con thuyền của nàng.

Các thuyền bè qua lại thấy vậy thì học theo, cuối cùng mới thoát được một kiếp nạn.

Thế nhưng, đám binh sĩ trấn giữ thì không được may mắn như vậy.

Giờ đây hồi tưởng lại cảnh tượng đêm ấy lửa cháy ngút trời, tiếng la chém giết vang động, Lý Thanh Nguyên vẫn còn cảm thấy kinh hồn bạt vía. Đặc biệt là ánh mắt hung tàn như sói đói của đám lưu dân khiến nàng vĩnh viễn không thể nào quên.

“Tiền tài là vật ngoài thân, người bình an là tốt rồi.” Lão Vương phi nắm lấy tay nữ nhi vỗ về, “Chỉ là, vùng Hoài Nam vốn là mảnh đất lành, sao lại đột nhiên sinh ra bạo loạn?”

Lý Thanh Nguyên nói: “Lúc đầu con cũng suy nghĩ không ra, sau đó nghe đám lưu dân gào thét mới biết được vài manh mối. Hóa ra là do chế độ thuế dịch quá đỗi khắc nghiệt, bách tính oán than thấu trời vì gánh nặng ‘một đấu tiền vận một đấu gạo’. Thêm vào đó, quan phủ thúc giục sưu thuế gấp rút như lửa cháy đến mông, đủ thứ sưu cao thuế nặng đếm không xuể, khiến người dân tuyệt đường sinh kế, bấy giờ mới tụ tập nổi loạn, liều mình làm càn.”

Gương mặt Lão Vương phi trở nên trầm trọng, lại như đã thấu hiểu: “Hóa ra là vì thuế dịch.”

Tiêu Trầm Bích dỏng tai nghe ngóng, tức thì nhớ lại những mật báo liên quan đến Trường An mà mình đã thu thập được từ trước.

Nhắc đến thuế đường thủy, thì không thể không nhắc đến miệng ăn của người dân Trường An.

Quan Trung tuy trù phú, song vì kinh kỳ là nơi hội tụ tinh hoa, nhân khẩu đông đúc, nên thóc lúa ngô khoai tại địa phương thực khó lòng tự cung tự cấp.

Thời Trinh Quán, Khai Nguyên từng được xưng tụng là thịnh thế, nhưng ẩn sau ánh hào quang đó là việc Trường An đã nhiều lần rơi vào cảnh đói kém, Thiên tử bất đắc dĩ phải dời giá đến Đông đô Lạc Dương để “tìm cái ăn”.

Việc Lạc Dương trở thành Đông đô chính là bắt nguồn từ nguyên nhân này.

Hết lần này đến lần khác như vậy, trong dân gian dần xuất hiện lời mỉa mai gọi vị Hoàng đế đi tìm lương thực là “Trục lương Thiên tử”.

Thiên tử sao có thể dung tha cho lời mỉa mai bực này? Trong cơn thịnh nộ, hắn nghiêm lệnh cho triều thần phải giải quyết triệt để nạn đói tại Trường An.

Nhiều vị Tể tướng khổ công suy nghĩ, cuối cùng mới hiến một kế ấy là thu gom lương thực từ vùng sông nước Giang Hoài giàu có, theo các dòng sông Biện, Hoài, Hoàng Hà mà vận chuyển vào kinh thành.

Con đường này trở thành con đường quan trọng bậc nhất của vận chuyển đường thuỷ, cũng là huyết mạch duy trì quốc bản.

Về sau, danh thần Lưu Án đảm nhiệm chức Độ chi Diêm thiết Chuyển vận sứ, ông đã cải cách chế độ, sáng tạo ra phương pháp vận chuyển theo từng chặng và “quan giám sát, thương nhân vận tải”. Từ đó vận chuyển đường thuỷ ngày càng phồn thịnh, mỗi năm có thể vận chuyển bốn mươi vạn hộc gạo Giang Hoài về Trường An. Nhờ vậy nạn đói mới được giải quyết, Thiên tử cũng không cần phải hàng năm nhọc công đến Đông đô tìm cái ăn nữa.

Sau thời Lưu Án, chuyển hàng đường thuỷ cùng với muối sắt và rượu trở thành ba nguồn thu trọng yếu nhất, thảy đều quy về quyền quản lý của Diêm thiết Chuyển vận sứ.

Tuy nhiên, chuyển hàng đường thuỷ vốn là một miếng mồi béo bở, thời Lưu Án làm Chuyển vận sứ có thể giữ mình thanh liêm, song kẻ kế nhiệm sau thì chưa chắc.

Đặc biệt là sau khi cuộc đảng tranh giữa phe Bùi và phe Liễu bắt đầu, chức vị Diêm thiết Chuyển vận sứ liền trở thành cái ghế mà hai phe quyết tử tranh giành. Bất luận phe nào chiếm được, hiếm có kẻ nào không mượn cơ hội này để vơ vét của cải, làm đầy túi riêng. Cuộc bạo loạn của dân phu thuyền hàng hlần này rõ ràng là do vị Chuyển vận sứ đương nhiệm tham lam, tàn ác quá mức mà ra.

Tiêu Trầm Bích đang mải suy tính xem vị Diêm thiết Chuyển vận sứ đương nhiệm là ai, Lão Vương phi đột nhiên lên tiếng: “Nếu ta nhớ không lầm, Diêm thiết Chuyển vận sứ hiện nay là Bách Khánh? Hắn ta còn kiêm nhiệm cả chức Hoài Nam Tiết độ sứ?”

“Chính là hắn.” Lý Thanh Nguyên đáp, “Vào lúc tảng sáng, Bách Khánh đích thân thống lĩnh binh mã đến trấn áp, toàn bộ lưu dân làm loạn đều bị chém chết tại chỗ. Con nhìn tình thế không ổn, Bách Khánh dường như không phải đang trấn áp mà là đang muốn diệt khẩu! Lưu dân đã chết, những con thuyền qua lại như chúng con e là cũng khó thoát được kiếp nạn! Thế là nhân lúc binh biến hỗn loạn, lập tức hạ lệnh cho phu thuyền kéo buồm hết cỡ, toàn lực tháo chạy khỏi Hoài Nam. Quả nhiên, sau khi giết sạch lưu dân, Bách Khánh lập tức ra tay với thuyền bè còn lại, vết thương trên mặt con đây chính là bị trúng tên lạc lúc đang tháo chạy.”

Nàng vuốt ve gò má bên phải, vết thương dài chừng một đốt ngón tay, trông thực sự rợn người.

Lão Vương phi lập tức nổi trận lôi đình: “Cái gì? Mặt của con lại là do tên Bách Khánh kia làm bị thương?”

Lý Nhữ Trân cũng phẫn nộ không kém: “A tỷ là Hoa Dương Quận chúa, phu gia lại là Thanh Hà Thôi thị! Tên Bách Khánh đó sao dám to gan lớn mật ra tay với tỷ?”

“Con không hề tiết lộ thân phận với bọn chúng!” Lý Thanh Nguyên giải thích, rồi nói tiếp, “Huống hồ Bách Khánh hôm đó lo sợ sự việc bại lộ nên ra tay vô cùng độc ác, hơn một ngàn lưu dân có mặt đều bị đồ sát sạch sành sanh. Cho dù con có tỏ rõ thân phận, chưa chắc hắn đã chịu để con sống mái mà rời đi, đằng nào thì người cũng chết hết rồi, con chết dưới tay loạn dân hay chết dưới tay hắn, liệu có ai phân biệt được?”

Lý Nhữ Trân nghe mà sống lưng lạnh toát: “Tên họ Bách này thật quá mức ngông cuồng! Chuyện này đã xảy ra hơn năm ngày rồi mà Trường An chẳng hề có chút tiếng gió nào, nếu không phải do đích thân A tỷ trải qua, e là thật sự đã bị hắn bưng bít thành công rồi!”

Lý Thanh Nguyên sao lại không hiểu điều đó: “Con nhận thấy tình hình bất ổn từ sớm nên mới kịp thời thoát thân. Còn về sau lưng con, tên bay như mưa, những thuyền bè qua lại chắc hẳn thảy đều bị diệt khẩu cả rồi.”

Lý Nhữ Trân nghe đến đây lại không nhịn được mà căm phẫn. Những con thuyền kia trốn thoát được bạo dân, nhưng lại chẳng thoát nổi quan quân! Những lưu dân bị dồn vào đường cùng vẫn còn giữ lại một chút thiện lương, vậy mà binh sĩ vốn mang danh bảo vệ quốc gia dân chúng lại chẳng hề nương tay với chính đồng bào của mình.

“Thật đáng than! Thật nực cười!”

Lý Nhữ Trân hận không thể vác giáo lên ngựa, chém chết tên Bách Khánh kia cho hả giận.

Tiêu Trầm Bích lặng lẽ lắng nghe, trong lòng không khỏi kinh hãi. Thế nhưng sau phút cảm thán, nàng lập tức lấy lại vẻ bình tĩnh, nhanh chóng xâu chuỗi sự việc này với tình hình triều chính.

Nàng nhớ mang máng kẻ tên Bách Khánh kia dường như thuộc phe Bùi đảng. Nói như vậy, chẳng phải nàng có thể đem chuyện này bẩm báo cho Viện Tiến Tấu, rồi để Viện Tiến Tấu ngấm ngầm tiết lộ cho Liễu đảng, thực hiện một chiêu “mượn đao giết người” sao?

Trong lòng Tiêu Trầm Bích xoay chuyển trăm phương ngàn kế, nhưng ngoài mặt lại chẳng lộ ra mảy may, chỉ ôn tồn nói vài câu khuyên giải đại tỷ tỷ.

Sự việc này quan trọng vô cùng, một lát sau, Lão Vương phi bảo Tiêu Trầm Bích và Lý Nhữ Trân lui xuống.

Tiêu Trầm Bích đoán rằng hai mẹ con họ có chuyện riêng muốn bàn bạc. Nàng xưa nay vốn không thích tọc mạch, cũng chẳng nghĩ ngợi gì nhiều, vừa bước ra ngoài nàng đã liếc mắt ra hiệu, lập tức lệnh cho Sắt La xuất phủ, đem tin tức này mật báo cho Khang Tô Lặc.

*

Phía trong An Phúc Đường, Lão Vương phi quả thực có chuyện cần bàn với Lý Thanh Nguyên, nhưng không hoàn toàn là chuyện riêng tư.

Lý Thanh Nguyên thông minh, chẳng đợi mẫu thân mở lời đã nói trước: “Mẫu thân muốn đem vụ án này phanh phui ra ngoài, lật đổ Bách Khánh, rồi sau đó dẫn dụ cho hai phe vương gia tranh đấu sao?”

“Phải. Vẫn là A Nguyên hiểu thấu lòng ta.” Lão Vương phi cảm thán, “Nhữ Trân tính tình lỗ mãng, còn thê tử của A Lang lại quá đỗi nhu nhược, nên ta mới phải đuổi khéo hai đứa nó đi để bàn bạc kỹ lưỡng với con.”

Lý Thanh Nguyên suy tư đáp: “Con cũng nghĩ như vậy. Vừa khéo phu quân con là Thôi Đam vừa chính thức nhậm chức Lễ bộ Thị lang, chi bằng cứ để chàng dâng sớ tấu trình…”

“Không được.” Lão Vương phi lại lắc đầu, “Chuyện này tuyệt đối không thể để Thôi gia ra mặt, nếu không Khánh vương chắc chắn sẽ ghi hận con. Trước đây vụ án khoa cử gian lận và cũ án ở Kiếm Nam đã khiến hai vương gia đấu đến không thể tháo gỡ được rồi. Theo ta thấy, con chỉ cần âm thầm đem tin này tiết lộ cho phe Liễu đảng, Liễu tướng tự khắc sẽ dùng đây làm nhược điểm, phái người buộc tội Bách Khánh.”

Lý Thanh Nguyên cảm thấy vô cùng có lý: “Như vậy là ổn thỏa nhất. Con về sẽ bảo lang quân tìm cách bí mật chuyển tin cho Liễu đảng.”

Lão Vương phi vỗ vỗ tay nữ nhi, kế sách cứ thế định đoạt.

Ở một diễn biến khác, Sắt La tuân lệnh Tiêu Trầm Bích, cũng hỏa tốc đem chuyện loạn bạo dân ở Hoài Nam cùng việc Bách Khánh diệt khẩu hàng trăm người bẩm báo cho Viện Tiến Tấu.

Hai ngày nay Khang Tô Lặc chẳng hiểu vì sao đột nhiên đau đầu đau bụng dữ dội, đang phải nằm liệt giường nghỉ ngơi. Vì thế, việc này do một tay An Nhâm xử lý.

An Nhâm nghe tin thì mừng rỡ, định bụng đem chuyện này mật báo cho Liễu đảng.

Nào ngờ hắn vừa chuẩn bị xong xuôi vật dụng, liên lạc được với Hàn Ước để nhờ y bí mật thông báo cho Liễu Tông Bật, thì Hàn Ước lại ngạc nhiên hỏi ngược lại rằng tại sao bọn họ cũng đã biết rồi.

Một chữ “cũng” dùng thật là kỳ quặc.

An Nhâm gặng hỏi mới biết, chuyện này ngay từ buổi chiều đã có người mật báo cho Liễu Tông Bật, giờ đây không chỉ Liễu đảng, mà ngay cả Hàn Ước cũng đã nghe phong phanh.

An Nhâm sững sờ: “Không phải nói toàn bộ người có mặt hôm đó đều bị Bách Khánh diệt khẩu rồi sao? Sao các ngươi lại biết được?”

Hàn Ước đáp: “Tại hạ nghe được từ miệng các đồng liêu, hơn nữa không chỉ các đồng liêu biết, mà hiện tại chuyện này đã lặng lẽ lan truyền khắp Trường An rồi.”

Trong lòng An Nhâm càng thêm kinh hãi, trong thời gian ngắn không nghĩ ra được rốt cuộc là có chuyện gì, bấy giờ mới tìm đến Tây sương phòng.

Nào ngờ Lý Tu Bạch nghe xong, cuốn sách đang cầm trên tay bỗng nhiên buông thõng, ánh mắt sắc lẹm: “Hoa Dương Quận chúa? Sao các ngươi lại có can hệ gì đến nàng ấy?”

An Nhâm bị phản ứng của hắn làm cho giật mình, nhíu mày: “Tin này quả thực xuất phát từ miệng Hoa Dương Quận chúa, có gì không ổn sao?”

Trong lòng Lý Tu Bạch tức thì lướt qua hàng vạn ý nghĩ.

Trước đây hắn từng lôi kéo một nhóm tâm phúc âm thầm mưu tính, chỉ tiếc đại nghiệp chưa thành thì bản thân đã rơi vào cảnh tù đày. Theo lời An Nhâm, chuyện này chỉ có A tỷ của hắn biết được nội tình, thế nhưng, có kẻ lại nhanh hơn Viện Tiến Tấu một bước, đem tin tức này thả cho Liễu đảng.

Điều này có nghĩa là, trong bóng tối vẫn còn một thế lực khác đang tìm cách khích bác cho hai phe vương gia tranh đấu.

Sẽ là ai đây? Chẳng lẽ là…

Mặc dù trong lòng dậy sóng, nhưng ngoài mặt Lý Tu Bạch vẫn không tỏ vẻ giả, lạnh nhạt đáp: “Không có gì, chỉ là thấy cái tên này nghe hơi lạ lẫm mà thôi. Có điều vì sao Ngụy Bác lại chậm chân một bước? Là lúc nhận được tin đã muộn rồi sao?”

Tuy ngày thường An Nhâm hay cười hì hì, nhưng vẫn luôn giữ cảnh giác với Lục tiên sinh, không hề tiết lộ toàn bộ sự thực.

Hắn tùy tiện bịa ra một lý do: “Chắc là vậy. Tin tức của chúng ta là mua được, có lẽ Hoa Dương Quận chúa trước đó đã từng nhắc qua với kẻ khác? Hoặc lúc đó ngoài Quận chúa ra vẫn còn những con thuyền khác may mắn trốn thoát được chăng?”

Lý Tu Bạch thân tại hiểm cảnh, bị giam hãm chốn này nên chẳng thể phân định thật giả.

Đương nhiên, hắn cũng chẳng dại gì mà nói rõ hết ngọn ngành với người của Ngụy Bác, bèn thuận theo lời đối phương mà đáp: “Cho dù thế nào, nay Liễu đảng đã nắm được thóp, ắt sẽ mượn cớ này mà gây khó với Bùi đảng. Chúng ta chỉ việc ngồi xem hổ đấu, âm thầm quan sát, chờ lúc thích hợp thì thêm dầu vào lửa là đủ.”

An Nhâm cũng có cùng toan tính như vậy không nói thêm nữa, ánh mắt gã lướt qua chiếc án thư rộng lớn, tâm trí lại bắt đầu nảy sinh ý đồ khác.

Than ôi, tỳ nữ vừa bẩm báo rằng vài ngày trước Quận chúa có nguyệt sự, điều này cũng đồng nghĩa với việc bao công sức bỏ ra suốt cả tháng qua đều đổ sông đổ bể.

Cái thai của Quận chúa, nay bên ngoài đã tuyên bố là được “hai tháng” rồi, chỉ cần một tháng nữa thôi là sẽ đến lúc lộ bụng, nếu đến lúc ấy mà bụng vẫn bằng phẳng, chỉ e cái đầu và cái cổ của gã sẽ mỗi người một ngả!

Không được, phải để Tiêu Trầm Bích thường xuyên lui tới hơn mới được, trong vòng một tháng này nhất định phải khiến nàng mang thai. An Nhâm vốn xuất thân là đại phu người Hồ, đối với chuyện phòng khuê của phụ nhân cũng am hiểu một chút, khoảng năm sáu ngày sau khi sạch nguyệt sự chính là thời điểm vàng để thụ thai.

Đến lúc đó, dù có phải bắt cóc trói người thì gã cũng phải lôi nàng tới đây. Hơn nữa, tốt nhất là phải khiến nàng ở lại Viện Tiến Tấu này trọn một ngày ròng rã.

***

Chương tiếp theo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *