Chương 14
***
Khang Tô Lặc ngồi lì trong quán rượu, uống mãi cho đến khi trời hửng sáng.
Đợi khi cửa phường mở ra, lệnh giới nghiêm được gỡ bỏ, hắn mới lảo đảo bước đi, tay xách hai vò rượu loạng choạng quay về.
Gió lạnh thốc qua, hơi men tan bớt vài phần, nhác thấy thứ mình đang xách trên tay, hai má hắn bỗng nóng bừng như lửa đốt, không kìm được mà tự giáng cho mình một cái tát ngay giữa phố.
Dẫu sao hắn và Tiêu Trầm Bích cũng là thanh mai trúc mã bao năm, hắn đã thật sự động chân tình.
Nếu không, hắn đâu cần lặn lội nghìn dặm xa xôi từ Ngụy Bác bôn ba đến tận Trường An này.
Dùng đến loại thủ đoạn đen tối ấy, chính bản thân hắn cũng thấy đê tiện.
Nhưng bảo hắn phải trơ mắt nhìn nàng ngả vào lòng kẻ khác, mùi vị ấy còn đau đớn hơn cả bị dao khoét vào tim.
Cuối cùng… hãy cho nàng thêm một cơ hội cuối cùng.
Khang Tô Lặc bỗng quay người đi về phía chợ Đông, mua một gói hạt sen ngào đường, rồi tới hiệu sách họ Vương ngồi đợi Sắt La.
Đợi Sắt La đến, sau khi trao đổi tin tức xong xuôi, hắn thuận tay đưa gói hạt sen qua.
Sắt La hỏi: “Cho muội à?”
“Không, cho Quận chúa, ngươi cầm về giúp ta. Còn nữa…” Khang Tô Lặc ngập ngừng, “Để ý phản ứng của nàng, xem nàng có nhận hay không.”
Sắt La thắc mắc: “Xem cái đó làm gì? Chẳng lẽ gói hạt sen này có gì cổ quái? Hay nàng ta lại giở trò tâm cơ?”
Khang Tô Lặc không khẳng định cũng chẳng phủ nhận, Sắt La đành phải làm theo.
Món hạt sen ngào đường này vốn là thứ Tiêu Trầm Bích thích ăn nhất ngày trước.
Nếu nàng nhận lấy, chứng tỏ nàng vẫn còn niệm chút tình xưa nghĩa cũ, hắn cũng sẽ không làm đến bước đường cùng.
Còn nếu nàng không nhận… Ánh mắt hắn quét qua vò rượu sau lưng, vậy thì đừng trách hắn vô tình.
*
Trường An phồn hoa, một trăm linh chín phường mỗi nơi một vẻ.
Vùng ngoại ô lại càng là chốn bồng lai tiên cảnh, tôn thất và hào môn thế gia đua nhau khoanh đất xây dựng biệt viện tại đây, hạ về tránh nóng, đông tới sưởi ấm, tiêu dao sung sướng biết bao.
Kỳ Vương cũng là một trong số đó.
Bởi lẽ Thánh nhân không có con nối dõi, hắn có hy vọng kế thừa đại thống, nên hai năm nay quyền quý đua nhau phụ tá, vàng bạc châu báu chất đầy cửa nhà, khu biệt viện ở Võng Xuyên của hắn cũng được xây dựng xa hoa cùng cực.
Mẫu thân của Kỳ Vương xuất thân từ đại tộc, Vương phi cũng là nữ nhi của dòng họ Trịnh thị ở Huỳnh Dương, theo lý mà nói, sự giáo dưỡng mà hắn thụ hưởng phải thuộc hàng thượng thừa.
Đáng tiếc, hắn sinh ra đã thô kệch, học vấn lại tầm thường, biệt viện tuy chiếm đất cả trăm mẫu, dùng vàng ngọc đắp lên, nhưng lại chẳng hề có chút bố cục hay phẩm vị nào đáng nói.
Ngoài việc bài trí phàm tục, sở thích của Kỳ Vương cũng khá khác người.
Hắn chẳng giống các thế gia khác tổ chức những buổi nhã yến thưởng trà rượu, mà lại thích thao luyện thân binh, xem đấu vật giác để. Lúc cao hứng còn đích thân lên đài, làm cho bản thân mồ hôi nhễ nhại, thô lỗ không sao tả xiết.
Với môn đệ và thanh danh của Liễu Tông Bật, vốn dĩ ông ta chẳng thèm để mắt đến loại tông thất thế này.
Nhưng Bùi Kiến Tố đã nhanh chân kết bè đảng với Khánh Vương trước, để tạo thế đối trọng, Liễu Tông Bật không còn cách nào khác đành phải quay sang phò tá Kỳ Vương.
Hôm nay, Kỳ Vương lại uống rượu mua vui tại biệt viện, xem đám nô lệ Côn Luân đấu vật.
Khi Liễu Tông Bật được dẫn vào, hai tên nô lệ Côn Luân kia đang quần nhau kịch liệt, đã đến thời khắc quyết định sinh tử.
Thân là Tướng quốc nắm trọng quyền, ông ta là chỗ dựa lớn nhất của Kỳ Vương, theo lý thì Kỳ Vương phải lấy lễ tiếp đãi, đứng dậy nghênh đón.
Nhưng Kỳ Vương đang xem đến mê mẩn, đừng nói là đứng dậy nghênh đón, đến mi mắt cũng chẳng buồn nhướng lên.
Trong lòng Liễu Tông Bật không vui, bước lại gần. Đúng lúc đó, tên nô lệ Côn Luân đang chiếm thế thượng phong bỗng tung một quyền cực mạnh, đánh chết tươi kẻ đang bị đè dưới thân.
Máu tươi bắn tung tóe, vừa khéo văng đầy mặt Liễu Tông Bật.
Quản sự vương phủ dẫn đường mặt cắt không còn giọt máu.
Kỳ Vương lại chẳng hề bận tâm, trái lại còn vỗ án đứng dậy, lớn tiếng khen hay: “Tốt! Tuyệt lắm! Thưởng trăm quan tiền! Sau này ngươi cứ ở lại đây, chuyên biểu diễn giác đấu cho bổn vương!”
Tên nô lệ Côn Luân toàn thân đẫm máu, hú hét reo hò quái dị.
Trong mắt Liễu Tông Bật thoáng vẻ chán ghét, ông ta lấy khăn tay từ tốn lau đi vết máu trên mặt.
Hứng thú tan rồi, Kỳ Vương mới như thể vừa nhìn thấy ông ta, thu lại nụ cười, quay sang mắng quản sự: “Liễu công giá lâm, ngươi làm việc kiểu gì vậy? Sao không thông báo!”
Quản sự vốn dĩ đã bẩm báo rồi, nhưng Kỳ Vương xưa nay vốn ghét cái vẻ thanh cao của Liễu Tông Bật nên cố tình lờ đi.
Hắn ngậm bồ hòn làm ngọt, đành quỳ xuống thỉnh tội: “Đại vương tha tội, là tiểu nhân sơ suất, cầu Đại vương phạt nhẹ!”
Kỳ Vương phất tay: “Tự đi lĩnh mười trượng!”
Sau đó, hắn mới tỏ vẻ cung kính mời Liễu Tông Bật ngồi: “Hôm nay là ngày nghỉ, Liễu công không ở phủ tĩnh dưỡng, sao lại rảnh rỗi đến chỗ bổn vương thế này?”
Liễu Tông Bật chìm nổi chốn quan trường bao năm, sớm đã nhìn thấu trò diễn của hai người.
Nhưng Kỳ Vương đã cho bậc thang đi xuống, ông ta cũng không tiện phát tác, chỉ nói: “Thần mạo muội tới đây là có việc quan trọng. Đại vương chẳng phải vẫn luôn phiền lòng vì bị Khánh Vương đè đầu cưỡi cổ sao? Hiện giờ, thời cơ phản công đã đến rồi.”
Kỳ Vương lập tức hứng thú: “Ồ? Thời cơ gì? Liễu công nói kỹ xem nào!”
Liễu Tông Bật bèn thuật lại tường tận chuyện gian lận khoa cử, rồi dâng cả thư máu lên.
Kỳ Vương xem xong, mừng rỡ ra mặt: “Tốt! Khánh Vương quen thói khéo mồm khéo miệng, thường làm bổn vương mất mặt trước Thánh nhân. Nay bằng chứng như núi, có thể một đòn hạ gục hai viên đại tướng của hắn, bổn vương muốn xem hắn còn cười nổi nữa không!”
Liễu Tông Bật trầm ngâm: “Có điều, tính tình Thánh nhân đa nghi, nếu phe ta trực tiếp vạch trần thì e sẽ bị nghi kỵ. Theo ý thần, việc này phải làm sao cho không để lại dấu vết.”
Kỳ Vương hỏi dồn: “Không để lại dấu vết là thế nào?”
Liễu Tông Bật tiếp lời: “Vì Giang Nam đại hạn, ngày mai Thánh nhân sẽ tới Viên Khâu tế trời cầu mưa. Đến lúc đó, hãy để Từ Văn Trường trà trộn vào đám đông, rồi báo trước với quân Thần Sách, đợi khi thánh giá xuất hành thì đẩy hắn ra trước ngự tiền kêu oan, làm lớn chuyện này lên. Như vậy, phe cánh họ Bùi dù muốn che đậy cũng bó tay chịu trói.”
“Nhưng mà… trước đây Liễu công chẳng bảo lúc này không nên xé rách mặt với Khánh Vương, còn khuyên bổn vương nén giận hay sao?”
“Lúc đó khác, bây giờ khác. Từ đầu năm đến nay, thánh cung vi hòa, đối với hai vị điện hạ đã nảy sinh kiêng dè, lần này chắc chắn sẽ không nhẹ tay với Bùi đảng và Khánh Vương đâu.”
Kỳ Vương nghe mà hơi mất kiên nhẫn, đằng nào thì vị Liễu tướng này nói gì cũng có lý, hắn dứt khoát nói: “Liễu công mưu trí vô song, lời ông nói tự nhiên là đúng rồi, việc này giao toàn quyền cho Liễu công lo liệu đi!”
Liễu Tông Bật mỉm cười vâng dạ.
Việc này cứ thế chốt lại, Kỳ Vương càng thêm cao hứng, xem đấu vật chán chê lại đòi đi săn bắn.
Liễu Tông Bật cũng chẳng can gián, cứ thế hồi phủ chuẩn bị cho chuyện lớn ngày mai.
Thật ra, ông ta nâng đỡ Kỳ Vương thượng vị không chỉ để đối đầu với Bùi đangr, mà còn vì muốn tiến thêm một bước.
Kỳ Vương quả thực tài học bình thường, thiếu sự cung kính, nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc dễ bề thao túng.
Sau này nếu kẻ này đăng cơ, ông ta có thể độc quyền triều cương.
*
Đại lễ tế trời theo lẽ thường do Lễ bộ chủ trì, với sự hiệp trợ của Thái thường tự, Quang lộc tự và Thiếu phủ giám.
Mỗi lần có đại sự thế này, điều khiến người ta đau đầu nhất không phải là nghi thức, mà là thứ bậc.
Vừa phải tuân theo lệ cũ, vừa phải xem xét tình thế, nhưng quan trọng nhất vẫn là đoán được thánh ý.
Ngay cả Tiền Vi, người đã ngồi ở ghế Thị lang Lễ bộ nhiều năm cũng thường xuyên tính toán sai lầm.
Danh sách sửa đi sửa lại năm sáu lần, bảy tám lượt là chuyện thường tình, thậm chí ngay trước giờ xuất phát mới thay đổi cũng chẳng phải hiếm.
Nhưng lần này, ông ta cố tình xếp xe của Khánh Vương đi trước Kỳ Vương, vậy mà Thánh nhân ngự bút phê chuẩn ngay, không chút do dự.
Vốn là Thị lang Lễ bộ, Tiền Vi càng thêm chắc chắn rằng trong chuyện lập người kế vị, Thánh nhân quả thực đã nghiêng về phía Khánh Vương.
Tiền Vi là Tiến sĩ năm Vĩnh Trinh thứ hai, là môn sinh của Bùi Kiến Tố, cũng là một trong những trụ cột của Bùi đảng, Khánh Vương đắc thế cũng đồng nghĩa với việc tiền đồ của ông ta rộng mở thênh thang.
Ông ta tự nhiên vui như mở cờ trong bụng.
Tin tức truyền đến tai Khánh Vương, khiến gã cũng vô cùng hài lòng về Tiền Vi.
Suy cho cùng, Tiền Vi không chỉ giành cho gã lợi thế về thứ bậc, mà trong dịp sinh thần vừa rồi, kẻ này còn dâng lên hẳn mười rương vàng ròng.
Giang Nam đại hạn, e rằng mùa màng năm nay sẽ thất thu. Nếu nghi lễ cầu mưa do gã chủ trì thực sự linh nghiệm, trời ban mưa móc, thì đó chính là điềm đại cát thượng thượng, báo hiệu gã là kẻ được “thiên mệnh lựa chọn”.
Vậy là Khánh Vương âm thầm cầu khấn, ngày mai trời nhất định phải đổ mưa.
Lúc này gã vẫn chưa biết, một cơn bão tố thực sự đang ập đến.
Chỉ có điều là hung hay cát, thì khó mà nói trước được.
Đối với các thế gia ở Trường An, việc Thánh nhân cầu mưa tuy quan trọng, nhưng quan trọng hơn cả là xem ai được tháp tùng.
Lần này Khánh Vương được giao một chức sứ để hỗ trợ bên cạnh, những quan viên có khứu giác nhạy bén lập tức đánh hơi thấy manh mối, những kẻ vốn đang dao động giờ đây đã bắt đầu ngả nghiêng.
Điều khiến người ta phải liếc mắt dè chừng hơn cả, là cỗ xe của phủ Trường Bình vương vốn luôn kín tiếng nay lại được xếp ngay sau thánh giá, thậm chí đứng trên cả Khánh vương và Kỳ vương.
Vị trí này xưa nay luôn là tâm điểm chú ý của vạn người, Thái thường tự dám sắp xếp như vậy, chắc chắn đã được Thánh nhân gật đầu ưng thuận.
Nghĩ cũng phải, Lão Trường Bình vương đã bỏ mình trong trận lũ lụt Giang Nam, Lý Tu Bạch cũng vì đi tuyên úy U Châu mà gặp nạn. Giờ đây phủ Trường Bình vương nhân đinh điêu tàn, chỉ còn lại một giọt máu chưa chào đời.
Hành động này của Thánh nhân là để phô bày lòng nhân đức, an ủi gia quyến trung liệt.
Cho nên, dù là Khánh vương hay Kỳ vương cũng chẳng có bất cứ dị nghị nào về sự sắp xếp này, thậm chí trong lòng mỗi người còn tự nhủ sau này phải qua lại nhiều hơn với phủ Trường Bình vương.
Làm vậy vừa thể hiện được tình huynh đệ thâm sâu, lại vừa lấy được lòng Thánh nhân.
Sự sắp xếp này Thôi Vương phi đã biết từ sớm. Bà không ngạc nhiên, cũng chẳng mảy may vui mừng, thậm chí cứ nghĩ đến việc sắp phải chạm mặt Lý Nghiễm là trong lòng lại cảm thấy ghê tởm.
Nhưng vì đứa cháu chưa ra đời của A Lang, vì đại nghiệp, bà vẫn cung kính tiếp chỉ.
Đương nhiên, với tư cách là góa phụ của Trường Bình vương, lại là con côi của vị Thứ sử U Châu đã tuẫn mình vì nước, Diệp thị hiển nhiên cũng phải đi cùng.
Thôi Vương phi chỉ dặn dò nàng vài điều về lễ nghi, rồi không nói thêm gì nữa.
Về những mưu đồ trong bóng tối, bà tuyệt nhiên không hé răng nửa lời.
Một là vì bà cảm thấy Diệp thị xuất thân môn hộ nhỏ, dù có nói nàng cũng chưa chắc đã hiểu.
Hai là sợ Diệp thị không ưng thuận, dẫu sao Diệp thị tuy yêu thương A Lang, nhưng chưa chắc đã chịu chết vì hắn.
Nàng ta chỉ cần nàng ngoan ngoãn sinh đứa bé ra là được.
Tiêu Trầm Bích chẳng hay biết gì về những toan tính của nhóm người Thôi Vương phi.
Song, nàng đã nghe Sắt La báo lại rằng kế hoạch của Khang Tô Lặc bước đầu đã thành. Nàng khẽ nhíu mày, ngồi trong viện Bích Lệ âm thầm suy diễn động thái của phe cánh họ Liễu.
Từ Văn Trường nương náu trong phủ Liễu đã được hai ngày. Hai ngày nay, nàng ngầm sai Sắt La và Lý Nhữ Trân nghe ngóng tin tức, thấy kinh thành vẫn sóng yên biển lặng, chẳng có chút biến động nào, rõ ràng là Liễu Tông Bật và Kỳ Vương vẫn chưa ra tay.
Khang Tô Lặc nóng lòng, thư gửi cho Sắt La lời lẽ đầy lo lắng, hỏi xem có cần can thiệp hay không.
Sắt La chuyển lời lại, Tiêu Trầm Bích chỉ lắc đầu: “Không cần. Cứ án binh bất động, lấy tĩnh quan sát biến động là được.”
Thấy Sắt La ngơ ngác, nàng kiên nhẫn giải thích: “Lần tế trời này Khánh Vương nắm giữ trọng trách, còn Kỳ Vương lại bị thất thế, Liễu đảng chắc chắn sẽ không chịu ngồi yên. Bọn họ chần chừ chưa động thủ, có lẽ là đang đợi một thời cơ tuyệt hảo để đánh cho Bùi đảng trở tay không kịp. Mà đại điển tế trời long trọng thế này, chính là cơ hội ngàn năm có một.”
Sắt La đăm chiêu suy nghĩ: “Ý cô là trong buổi lễ ngày mai, Liễu Tông Bật sẽ dẫn tên thư sinh kia ra vạch trần Tiền Vi sao?”
Tiêu Trầm Bích cười nàng ngây thơ: “Lão hồ ly như Liễu Tông Bật đời nào lại tự mình ra mặt. Thánh nhân tính vốn đa nghi, ông ta nhất định sẽ phủi sạch mọi liên quan để giữ mình và Kỳ Vương trong sạch. Ở chốn kinh sư ngay dưới chân Thiên tử này, chuyện chặn xe cáo ngự trạng đâu phải hiếm, ta đoán Liễu Tông Bật cũng định để Từ Văn Trường làm như vậy.”
Sắt La bán tín bán nghi: “Ngự trạng mà dễ cáo thế sao? Ở đất Ngụy Bác, người ta muốn gặp cô một lần còn khó như lên trời, huống hồ là Hoàng đế Đại Đường? Chưa chắc cô đã đoán đúng đâu!”
Tiêu Trầm Bích chỉ cười mà không đáp.
Sắt La khoanh tay hừ lạnh, thầm nhủ ngày mai nhất định phải mở to mắt xem Tiêu Trầm Bích có thực sự liệu việc như thần hay không.
Nói xong chính sự, Sắt La chợt nhớ tới một việc khác Khang Tô Lặc nhờ, bèn xoay người lấy từ trong ngực áo ra một gói giấy dầu nhỏ, đưa cho Tiêu Trầm Bích.
“Nè, cái này là Khang Tô Lặc nhờ tôi chuyển cho cô.”
Một mùi hương ngọt ngào quen thuộc thoảng qua, trong khoảnh khắc khơi dậy những ký ức bụi phủ mờ xưa cũ.
Năm ấy, sau khi ngoại tổ phụ qua đời, ba mẹ con nàng bị phụ thân ghẻ lạnh, giam lỏng trong một tòa biệt viện hẻo lánh, không được phép ra ngoài. Ngày thường phải thắt lưng buộc bụng, lại còn phải chịu đựng sự chèn ép của đám thiếp thất, những tháng ngày đó gian nan vô cùng. Khi ấy, thỉnh thoảng Khang Tô Lặc lại lén đến thăm nàng, mang cho một gói hạt sen ngào đường. Đó là mỹ vị hiếm hoi trong chuỗi ngày cay đắng.
Chính vì niệm chút tình xưa nghĩa cũ ấy, nàng mới chọn hắn làm người ở rể.
Tiếc thay, cảnh còn đó mà người đã khác xưa.
Động tác của Tiêu Trầm Bích khựng lại, rồi nàng chậm rãi vươn tay ra.
Sắt La dán mắt vào đầu ngón tay nàng, cứ ngỡ nàng định nhận lấy.
Nào ngờ ngay sau đó, Tiêu Trầm Bích lật cổ tay, thản nhiên dốc ngược cả gói hạt sen xuống dưới mái hiên, mặc cho chim chóc xúm lại mổ ăn.
Sắt La hiểu ngay. Thế này là dứt khoát không nhận rồi.
Vậy thì ngày mai, nàng cứ thế mà thuật lại y nguyên với Khang Tô Lặc thôi.
***