Chương 18: Hai đoạn ký ức
*
Kinh sư.
Trường Giang tựa dải lụa trắng, mặt nước phẳng lặng như gương, dưới cơn mưa thu miên man, một bên là sông, một bên là núi, non non nước nước lúc ẩn lúc hiện trong màn mưa mờ mịt, cột cỗ xe ngựa bánh đỏ dừng lại trước quán trà gần đê sông, có hộ vệ xuống ngựa vén rèm xe.
“Đến nơi rồi, Chủ quân.”
Một nam tử trẻ tuổi bước xuống xe ngựa, vận bộ cẩm bào cổ tròn màu xanh đen thêu vân mây tôn quý, gương mặt lạnh nhạt, dung mạo cực kỳ tuấn mỹ. Nơi này bình thường ít thấy người quyền quý qua lại, khiến cho những người bán trà hương dã bên cạnh cũng không nhịn được mà phải ngoái nhìn thêm vài lần về phía xe ngựa.
Đây chính là ven sông Xuân Lai ở kinh thành.
Sông Xuân Lai vắt ngang Nam Bắc Kinh sư, giao thương đường thủy tấp nập, có điều do mưa lớn mấy ngày nay, trời đất âm u, hôm nay bên bến tàu chẳng thấy mấy bóng dáng thuyền chở hàng.
Cư dân sinh sống ở đây đều là ngư dân quanh vùng, gia cảnh phần lớn bần hàn, dựng nhà lụp xụp sát mép nước, cứ hễ đến mùa mưa là khắp nơi ẩm ướt, mưa dột gió lùa, vô cùng cơ cực. Mà ở phía sau những dãy nhà tranh tồi tàn nối tiếp nhau, có một khoảnh đất trống trải rộng lớn, trên đất nhấp nhô những nấm đất lớn nhỏ.
Đây là một khu mộ phần.
Hoắc Tầm dừng bước trước khu mộ.
Kinh sư tấc đất tấc vàng, Đế vương khi băng hà được táng vào lăng mộ, lăng mộ phần lớn tựa lưng vào núi, khí thế hùng vĩ, chôn cùng có cung nhân tần phi.
Vương hầu quý tộc sau khi chết, tu sửa phần mộ xa hoa tựa tư dinh, bên trong đặt nhiều đồ vàng bạc, y phục quý giá.
Bách tính tầm thường thì giản tiện hơn, không lăng không tẩm, chỉ có một mảnh đất cắm bia đá, người thân ngồi quây quần đốt dăm ba xấp giấy tiền.
Con người chia thành ba bảy bậc, lúc sống đã vậy, nhắm mắt xuôi tay cũng chẳng khác nào.
Nhưng dẫu là lăng, là mả hay là mộ, thì người khuất bóng nhập thổ vì an, coi như cũng có một chốn nương về.
Thế nhưng khu mộ hoang vô danh ven bờ sông Xuân Lai này lại khác. Nó không thuộc về bách tính, mà phần nhiều là nơi an giấc ngàn thu của những vong hồn vô danh trên mảnh đất Kinh sư này. Những người đã khuất ấy, dẫu trong nhà vẫn còn người thân, không đến mức bị vứt bỏ tại bãi tha ma mặc cho thú hoang giày xéo thi thể, ngặt nỗi người nhà lại chẳng có tiền mua đất tốt sắm quan tài an táng, đành đưa người chết tới chốn này chôn cất qua quýt, vẹn đạo tưởng niệm.
Trúc Chân bước đến trước một nấm mồ rồi dừng lại, bẩm báo với Hoắc Tầm: “Chủ quân, đây chính là nơi chôn cất nữ tù Tiền Tiểu Ngọc.”
Ánh mắt Hoắc Tầm dừng lại trên nấm mộ.
Ngôi mộ này khác biệt hẳn với những nơi khác, người an táng ở chốn này đa phần bần hàn, chẳng có tiền lập bia, thế mà nơi này lại dựng một tấm bia đá, kỳ lạ là trên bia không khắc tên, chỉ là một tấm bia trống.
Mưa dầm mấy ngày liền, trước mộ phần bùn lầy nhơ nhớp, những tờ tiền giấy ố vàng bị mưa làm ướt sũng, dính bết rũ rượi lên mặt bùn, chẳng khác nào những con bướm đã chết.
Trúc Chân nói: “Người bỏ tiền thuê an táng Tiền Tiểu Ngọc, chính là góa phụ của nạn nhân, Phương Tình Vân.”
Phương Tình Vân, trong mắt Hoắc Tầm khẽ gợn lên một tia gợn sóng.
Ngày ấy tại khu chợ, hắn gặp nữ tù kêu oan, sau đó sai người lôi hồ sơ vụ án của nàng ta ra xem xét, phát hiện bên trong vô vàn điểm khả nghi. Tiền Tiểu Ngọc đã không còn người thân, thi thể chẳng ai khâm liệm, đáng lý phải do Hình bộ định đoạt, kết cục cũng là ném ra bãi tha ma.
Hắn lệnh cho Trúc Chân mua một cỗ quan tài mỏng để khâm liệm chôn cất nàng, nào ngờ Trúc Chân đi rồi lại về tay không, dò la mới biết trước đó đã có người mang thi thể Tiền Tiểu Ngọc đi, an táng bên bờ sông Xuân Lai.
Phương Tình Vân…
Tiền Tiểu Ngọc vì lỡ tay giết nhầm trượng phu của Phương Tình Vân là Giang Nguyên nên mới chịu cảnh tù tội. Thân phận hai người là một thê một thiếp, Phương Tình Vân chẳng những không oán hận Tiền Tiểu Ngọc, lại còn lén giấu giếm người nhà họ Giang để đứng ra khâm liệm cho Tiền Tiểu Ngọc, xem ra, vốn dĩ chẳng phải là thù địch đơn thuần.
Ân ân oán oán, chẳng thể tỏ tường.
Vài đứa trẻ chạy tới chạy lui nô đùa dưới tán cây râm mát hai bên bờ, mưa phùn lất phất thấm ướt cả người cũng hồn nhiên chẳng để tâm, Trúc Chân dắt một đứa bé chừng sáu bảy tuổi bước tới trước mặt Hoắc Tầm.
Nhìn qua hẳn là con cái của ngư dân quanh vùng, mặc bộ áo gai màu nâu không vừa vặn, đầu gối và khuỷu tay vá chằng vá đụp, chân đất dẫm trên vũng lầy, tay khư khư ôm một sọt lớn đựng củ ấu và ngó sen.
Hoắc Tầm cụp mắt nhìn đứa trẻ, có lẽ ánh mắt của hắn quá lạnh nhạt, hoặc giả chất liệu y phục, cỗ xe ngựa cùng thị vệ bên cạnh mang đến áp lực vô hình, đứa bé rụt cổ e sợ, không kìm được lùi về sau lưng Trúc Chân, mấp máy môi thì thầm: “Nữ nhân đó cho cháu hai mươi lượng bạc, bảo cháu hễ đến dịp lễ tết đều đến đây dọn cỏ quét mộ, đốt tiền vàng tế bái người bên dưới.”
Không chỉ khâm liệm, mà còn căn dặn thường xuyên tế bái, mối quan hệ thật đáng ngẫm ngợi.
Thấy hắn trầm ngâm quá lâu, cậu bé ngẩng đầu, thấp thỏm nhìn Trúc Chân: “Đại nhân, những gì cháu biết chỉ có bấy nhiêu thôi, cháu đi được chưa ạ?”
Trúc Chân nhét một thỏi bạc vụn vào tay đứa trẻ, nói: “Đi đi.”
Cậu bé vội vã quay đầu cắm cổ chạy, chạy được hai bước, nó lại quay người lại, ôm khư khư giỏ củ ấu với ánh mắt nịnh nọt thăm dò: “Cái này… các ngài có cần không?”
Trúc Chân dở khóc dở cười, xua xua tay, đứa bé như được tha tội, ôm sọt cắm đầu chạy biến đi chẳng buồn ngoái lại, để lại trên bờ sông bùn lầy hai hàng dấu chân.
Hắn quay đầu, thấp giọng nói: “Chủ quân, Phương Tình Vân này có điểm mờ ám.”
Nếu thật như những gì hồ sơ ghi chép, chỉ là một vụ mưu sát vì tình, Phương Tình Vân và nạn nhân Giang Nguyên phu thê tình thâm, còn Tiền Tiểu Ngọc là độc phụ vì yêu sinh hận mà trở mặt thành thù, thì cớ gì sau khi chết còn được Phương Tình Vân chiếu cố đến vậy? Cho dù vị góa phụ kia có lương thiện tựa Bồ Tát, cũng chẳng thể khoan dung độ lượng đến nước này.
“Về phủ, ngươi tới Lại bộ, điều tra tường tận gốc gác của người nhà họ Giang, họ Phương, rồi về bẩm báo lại cho ta.”
Trúc Chân lĩnh mệnh vâng dạ, Hoắc Tầm đảo mắt, nhìn về hướng đứa bé vừa chạy đi ban nãy.
Ven sông Xuân Lai mưa sương giăng lối, dưới bóng rặng liễu xanh mướt, thấp thoáng một quán rượu nhỏ, dưới hiên đung đưa lá cờ tửu quán màu xanh thẫm, tiệm rượu Thiên Hà.
Đứa bé vừa được hỏi chuyện cõng sọt chạy lạch bạch vào nhà, loáng thoáng vọng ra vài tiếng mắng mỏ của nữ nhân.
Hóa ra là con trai của tiệm rượu.
Có lẽ do thời gian gần đây cứ xoay vần với vụ án của Tiền Tiểu Ngọc, nên khi trông thấy hai chữ “Thiên Hà”, hắn tự nhiên liên tưởng ngay đến nguyên quán của người chết, bất giác đứng lặng người nhìn chằm chằm lá cờ của tiệm rượu.
“Thiên Hà…” Trúc Chân cũng nhìn thấy lá cờ tiệm rượu, bật cười nói: “Cái tên này lại vừa vặn trùng với quê quán của ba người Tiền Tiểu Ngọc, lẽ nào Phương Tình Vân để mắt tới cái tên quán này, nên mới cất công chôn cất người ở đây.”
Hoắc Tầm không lên tiếng, Trúc Chân lại được đà nổi hứng nói tiếp: “Huyện Thiên Hà… Thuộc hạ nhớ Tần công từng nói, miếu nhỏ mà yêu phong lớn, dẫu chỉ là một trấn nhỏ, lại có cường đạo lộng hành. Năm đó Chủ quân lần đầu tiên đi ngang qua huyện Thiên Hà, đã bị cướp mất một thớt ngựa…”
Hoắc Tầm ngoắt đầu lại: “Ngươi nói cái gì?”
Trúc Chân đột nhiên im bặt, lúc này mới ý thức được mình vừa đắc ý quá, những năm gần đây chẳng một ai dám nhắc tới Tần công trước mặt Hoắc Tầm, hắn vội vàng cúi gầm đầu, giọng bé như muỗi kêu: “Thuộc hạ biết tội, xin Chủ quân trách phạt.”
Hoắc Tầm hơi nhíu mày, hỏi: “Ta bị cướp ngựa ở huyện Thiên Hà từ lúc nào?”
Hộ vệ sửng sốt, chần chừ giây lát rồi mới cẩn thận mở lời: “Chủ quân quả thực từng bị cướp mất một con ngựa ở huyện Thiên Hà, mà còn là một tuấn mã thượng hạng. Chỉ vì ngày đó phu nhân bệnh nặng, Chủ quân vội vã lên đường, nên không tính toán so đo.”
“Ta chưa từng chạm trán đạo tặc ở huyện Thiên Hà.” Hoắc Tầm nhíu mày.
Tuy hắn không dám nhận là kẻ trí nhớ siêu phàm lướt qua là không quên, nhưng những biến cố lớn xảy ra mười năm trước hắn vẫn nhớ như in, nhất là chuyện gặp phải giặc cướp, một khi đã xảy ra thì chẳng thể nào biết mất trong ký ức như vậy.
Mười năm trước, hắn quả thực từng đi qua huyện Thiên Hà, nhưng chưa từng lưu lại đó, ngay trong đêm hắn đã đánh xe rời đi, làm gì có chuyện mất ngựa…
Mất ngựa…
Ngay khi ý nghĩ đó xuất hiện, đột nhiên, có những mảnh ký ức vỡ vụn xẹt qua trong đầu hắn.
Giữa khu rừng đom đóm bay lượn dày đặc, một bóng đen thình lình ngã nhào ra, tuấn mã cất tiếng hí dài, xe ngựa dừng bước, thiếu nữ lóp ngóp bò dậy từ vũng lầy, nhét vào tay hắn một nắm kẹo mạch nha mỡ lợn nhớp nháp dầu mỡ, một đao chém đứt dây cương, cưỡi con hắc mã nhanh chóng lẩn vào rừng sâu.
Hình ảnh xẹt qua chớp nhoáng chẳng kịp phòng bị, khiến hắn thoắt chốc choáng váng, vội vịn vào thành xe ngựa mới có thể đứng vững.
Trúc Chân giật thót: “Chủ quân?”
Bốn bề mưa phùn vẫn rơi, những giọt mưa buốt giá tựa sợi bạc bay ngang tạt ướt cả người, Hoắc Tầm ngẩng đầu, trong đôi mắt lạnh nhạt thoáng kinh ngạc.
Hình ảnh vừa rồi…
Là ký ức, không sai, hắn quả thực từng đụng độ một thiếu nữ chặn đường giữa rừng rậm huyện Thiên Hà, nàng ta cướp mất ngựa của hắn rồi nghênh ngang rời đi, chỉ để lại một bóng lưng phóng khoáng tiêu sái. Mà khi ấy tình thế cấp bách, mẫu thân bệnh nặng, hắn không muốn chậm trễ thêm thời gian nên không giằng co, buông tha cho đối phương một con đường.
Thế nhưng, mãi cho đến tận khi Trúc Chân nhắc đến ban nãy, khoảng ký ức của mười năm trước, Hoắc Tầm hoàn toàn không tìm ra bóng dáng thiếu nữ nọ. Hắn chỉ nhớ bản thân đi ngang huyện Thiên Hà, hành trình rất gấp gáp, cho nên trận hỏa hoạn ở huyện Thiên Hà dạo đó đều là sau khi hắn rời đi mới hay biết.
Giống như, ký ức về kẻ cướp ngựa này, chỉ vừa mới đột ngột sinh ra.
Nó tồn tại hiển nhiên nhưng lại vô cùng lạc lõng, xâm nhập vào cái đêm của mười năm về trước, khiến hắn ở ngày hôm nay, sau mười năm, chợt phát hiện bản thân lại có thêm một đoạn gặp gỡ.
Có được hai đoạn ký ức.
***