Chương 28: Hỏa hoạn
***
Tiền Tiểu Ngọc có một giấc mơ.
Trong mơ sương khói mịt mờ, mây đen giăng lối, nàng thui thủi một mình bước vào miếu Thành Hoàng, một pho tượng thần mặt đỏ ngồi chễm chệ ngay chính giữa, cúi người nhìn xuống nàng, khuôn mặt trợn trừng giận dữ kia ngày càng kề sát, vung vẩy bảy tám cánh tay nặn bằng đất sét, tức giận bừng bừng đập thẳng một cuốn sổ tay vào mặt nàng…
“Ò ó o…”
Tiếng gà gáy xé toạc cảnh trong mơ, nào tượng thần, nào miếu Thành Hoàng tất cả đều tan biến thành bọt nước, nàng ngáp dài một cái, giơ tay dụi mắt bước xuống giường, vừa đẩy cửa sổ ra, phía chân trời sau cơn mưa đã loáng thoáng hửng lên vệt sáng mờ mờ.
Trời vẫn còn sớm, giờ này các quán ăn ven đường vẫn chưa mở cửa, nàng thay một bộ y phục dày dặn, bưng đèn bước ra ngoài, cửa phòng Đậu Miêu vẫn đóng im ỉm, còn Tiền Hữu Phú thì đang nằm dang tay dang chân ngáy hô hô ngay giữa nền nhà chính, Tiền Tiểu Ngọc ghé sát tai cha, nhẹ giọng bảo: “Con lên núi đốn củi đây.”
Tiền Hữu Phú xua xua tay, trở mình ngủ tiếp.
Tiền Tiểu Ngọc nhấc chiếc gùi trước cửa đeo lên lưng, bước chân thoăn thoắt ra khỏi nhà.
Trước khi xuất phát, nàng không quên ném luôn cuốn sổ tay chết tiệt đêm qua vào thùng chứa lá cải úa.
Lúc này bình minh vừa hé rạng, trăng vẫn chưa lặn hẳn, còn mặt trời đã dần ló một tia nắng sớm, chiếu rọi khoảng không xanh nhạt ánh lên sắc trắng sữa, thi thoảng lại vọng tới tiếng gà gáy vang lanh lảnh từ nhà hàng xóm.
Nàng bước đi nhẹ bẫng, gần con ngõ có mấy phụ nhân dậy sớm thổi cơm đang mở cửa hắt nước, trông thấy nàng thì cất tiếng hỏi: “Tiểu Ngọc lên núi đốn củi đấy à?”
“Vâng ạ.” Nàng cười híp mắt đáp lời.
Củi lửa trong nhà thực ra không hề ít, vẫn còn thừa lại hơn nửa, sáng tinh mơ lọ mọ lên núi thế này, vốn dĩ cũng chẳng phải để đốn củi mà là đi chặt chút cây thông thảo mang về.
Tiền Tiểu Ngọc đưa tay sờ lên búi tóc.
Ban nãy đi ngang qua giếng nước, nàng có liếc nhìn xuống một cái, trên mặt nước trong vắt như gương, đóa lệ đường ánh vàng cài trên suối tóc đen nhánh khiến bộ váy cũ bằng vải thô màu đỏ tía trên người nàng trông cũng kiều diễm hơn hẳn.
Hôm qua, Tiền Hữu Phú mua ở phố trước miếu một chiếc trâm hoa thông thảo giá tám mươi văn, nhưng Đậu Miêu lại bảo chiếc trâm này cùng lắm chỉ đáng năm mươi văn tiền, người bán đã ăn lãi ba mươi văn.
Trâm hoa thông thảo quả thực rất đẹp, nhưng ba mươi văn tiền lãi kia lại càng tươi đẹp hơn.
Nếu như nàng cũng có thể làm ra chiếc trâm hoa như thế, dẫu tay nghề chẳng sánh bằng chiếc đang cài trên tóc, nhưng nếu có một người khéo tay như Tình Vân chỉ điểm thì chưa chắc đã khó coi, chẳng dám mơ ba mươi văn, mười văn một chiếc ắt hẳn cũng kiếm được. Nếu mỗi ngày bán được hai ba chiếc, một ngày sẽ có hai, ba mươi văn, một tháng sẽ được sáu, bảy trăm văn, lỡ đâu buôn may bán đắt, một năm sẽ kiếm được mười quán tiền, cũng tức là mười lượng bạc.
Mười lượng bạc đấy!
Hai mắt Tiền Tiểu Ngọc sáng rực.
Nàng chẳng có sở thích nào khác, chỉ thích vàng bạc, nhất là tích cóp tiền tài, mắt thấy lại có thêm một con đường phát tài, làm sao mà không vui mừng cho được?
Ngẫm nghĩ đến đó, bước chân lại càng nhanh nhẹn phấn chấn.
Đi chừng hai canh giờ, cuối cùng nàng cũng leo lên tới núi Lão Lâm ngoại thành. Lúc này ánh ban mai hãy còn mờ nhạt, chiếu rọi lên những giọt sương trắng đọng trên ngọn cỏ khô mùa thu giữa núi rừng, tỏa ra vệt sáng mỏng manh.
Từ mỏm núi nhìn xuống, trấn nhỏ của huyện Thiên Hà đang đắm mình trong quầng nắng sớm màu vàng nhạt.
Tiền Tiểu Ngọc dạo quanh một vòng, cẩn thận sục sạo giữa cánh rừng, chẳng rõ hôm nay may mắn, hay vì đang đúng mùa sinh trưởng của cây thông thảo, nàng mau chóng tìm thấy một bãi mọc đầy loại cây này dưới sườn đồi, cây thông thảo vươn rất cao, ngước mắt nhìn không thấy ngọn, phiến lá vô cùng to lớn và dày rậm, thoạt nhìn khá giống cây ngô đồng.
Tiền Tiểu Ngọc trèo lên cây, rút con dao găm vắt ngang hông ra, dứt khoát chặt xuống vài nhánh rồi ném vào gùi.
Thân lá thông thảo vốn rỗng ruột, mùa đông đến cũng không bị khô héo, mang về nhà phơi phần lõi xốp bên trong sẽ biến thành những đoạn trụ nhỏ màu trắng sữa, dùng làm cánh hoa thông thảo là tốt nhất.
Nàng cứ thế chặt liên tục mấy chục nhánh, cho đến khi chiếc gùi trên lưng đã chật ních, lại tiện tay nhổ thêm vài loại thảo dược dùng để pha trà mới chịu ngừng tay.
Mặt trời trên núi tỏa nắng ấm áp, chiếc gùi nặng trĩu mang lại cảm giác vô cùng an tâm, sau một hồi bận rộn, trán và thân người Tiền Tiểu Ngọc đã ướt đẫm mồ hôi, nàng tìm một tảng đá ngồi nghỉ mệt, phóng tầm mắt ngắm nhìn dải mây đằng xa đang bị ánh mặt trời nhuộm đỏ, bất giác lại nghĩ tới cuốn sổ tay trên bàn trang điểm đêm qua.
“Mùng một tháng Mười một năm Hi Ninh thứ mười chín, bổ khoái ban bắt trộm huyện Thiên Hà là Tiền Hữu Phú, đồng phạm tội biển thủ quan bạc, khép vào tội tham ô, chịu hình phạt tổ hải.”
Lời nguyền rủa trên giấy hoang đường tột cùng, nực cười khôn xiết, nàng đã ném cuốn sổ vào thùng nước gạo, đợi Tiền Hữu Phú tỉnh dậy ắt sẽ tự mang đi vứt. Nghĩ tới nghĩ lui, đem ném đi vẫn an tâm hơn là châm lửa đốt, suy cho cùng, lỡ mà đốt lên, cái con sổ tay thành tinh kia mà rú kêu la ầm ĩ thì thật là đáng sợ.
Có điều… hai chữ “tổ hải” kia, rốt cuộc có ý nghĩa gì?
Nghĩ ngược nghĩ xuôi vẫn chẳng ra manh mối, nàng đành quyết định đợi khi nào xuống núi sẽ tới nhà họ Phương hỏi thử Tình Vân một phen mới được.
Bận rộn nửa ngày trời, bụng dạ sớm đã cồn cào, Tiền Tiểu Ngọc đói đến mức hoa mắt chóng mặt, đành dự tính ghé vào quán trà ăn lót dạ chút đồ điểm tâm trước đã.
Đi được một đoạn, quả nhiên nhìn thấy dưới chân núi có lá cờ quen thuộc của quán trà đang tung bay, quán không lớn, chủ quán căng một tấm bạt vải, kê vài bộ bàn ghế ra bên ngoài, ngoại trừ trà nước còn bán thêm ít trái cây, mứt kẹo đủ loại.
Tiền Tiểu Ngọc gọi một bát trà, mấy miếng bánh dẻo vừng, bóc nửa quả quýt xanh rồi ngồi thụp xuống bàn nghỉ ngơi, vài ngụm trà cùng miếng bánh trôi vào bụng, mệt mỏi ban nãy mới tan đi đôi chút.
Giữa mấy hàng bàn ghế xung quanh, đa phần đều là những nông phu lên núi đốn củi hái thuốc từ tờ mờ sáng giống như nàng, một mặt dừng chân nghỉ ngơi một mặt rôm rả trò chuyện, thi thoảng lại cười phá lên sảng khoái.
Tiền trà ở quán tính theo đầu người, thêm nước không tốn tiền, Tiền Tiểu Ngọc uống một mạch ba bát, đến khi bưng bát thứ tư lên thì nghe thấy hai nông phu chít khăn trùm đầu bàn bên cạnh đang nói chuyện.
“Nhìn thấy không, lúc ban nãy tới đây, trên đường có đến mấy cỗ quan tài, là chết người sao?”
“Ông chưa nghe tin gì à? Cái khách điếm ngủ trọ ngoài thành ấy, nửa đêm đèn dầu đổ gây cháy lớn, cả cái khách điếm chẳng một ai trốn thoát được, đều chết cả rồi!”
Khách điếm cháy lớn, lại còn có người mất mạng, dù xét ở đâu cũng là một vụ án lớn, Tiền Tiểu Ngọc vểnh tai lên, hơi chồm người về phía bàn bên cạnh nghe ngóng, đến mức quên luôn cả việc uống bát trà đang cầm trên tay.
“Cái gì?” Người đang tán gẫu nghe vậy thì kinh hãi, “Cả một gian khách điếm ư? Thế thì mất bao nhiêu người?”
“Toàn bộ mười sáu mạng đấy! Nghe đâu những người táng mạng trong khách điếm đa phần thuộc một gánh hát, cái gánh hát đó cũng khá có tiếng tăm, dạo trước từng diễn trong nhà họ lớn ở trấn ta, gọi là gì nhỉ…”
“Đỗ gia ban ư?”
“Đúng đúng, chính là Đỗ gia ban!”
“Choang” một tiếng.
Hai người đang nói chuyện nghe thấy âm thanh đều ngoảnh đầu lại, trước chiếc bàn gỗ lùn ngay cạnh bên, chiếc bát trà bằng sứ thô lăn lóc trên mặt đất, thiếu nữ ngồi trước bàn cả người run lẩy bẩy, sắc mặt thoắt cái trắng bệch như tờ giấy.
Tiếng bát trà vỡ vụn làm bầy chim hoang dã trong rừng rạng sáng hoảng sợ bay vút đi.
Lũ chim sải cánh phấp phới, cất mình từ chân núi bay thẳng lên không trung, lướt qua khói bếp của khu chợ sớm, bay về phía ngoại ô, rồi đậu trên ngọn cây dây leo ngoài thành, nghiêng nghiêng cái đầu chớp mắt nhìn xuống bên dưới.
Màn sương lạnh trắng xóa giữa núi rừng tựa như một tấm lưới khổng lồ, mỏng manh ôm trọn lấy không khí se lạnh, tiếng vó ngựa dồn dập văng vẳng vọng đến, âm thanh trong trẻo đánh tan lớp sương mù như giăng võng kia, cuốn theo đó còn có những đốm lửa bập bùng thắp sáng.
Một đội nhân mã dừng bước ngay trước cổng thành.
Kẻ dẫn đầu trạc độ ngoài bốn mươi, hốc mắt trũng sâu, khuôn mặt gầy gò đen sạm bó trong bộ áo bông vải thô màu xanh xám, thoạt nhìn hệt như một khúc gỗ mục rỗng đen ngòm.
Gã ghìm cương ngựa, ánh mắt khinh khỉnh liếc về phía xa.
Nơi xa, ánh mặt trời đỏ rực rỡ chiếu rọi, phía trên trấn nhỏ bé có những làn khói bếp dịu dàng lượn lờ bay lên.
“Kẻ đó trốn ở ngay đây sao?”
“Bẩm đại nhân, đích thị là thế ạ.” Kẻ đi bên cạnh cung kính đáp lời, trên khuôn mặt dài ngoẵng là những nốt rỗ hằn rõ mồn một.
Người trên lưng ngựa cười khẩy một tiếng, chậm rãi nhả ra một chữ.
“Lục soát.”
Lời vừa dứt, phía sau đội xe ngựa đông đúc trong rừng, chợt có mười mấy con chó đen gầy nhom hung hăng lao vút ra, phi như một mũi tên xé gió thẳng về phía trấn nhỏ đang đắm mình trong ánh ban mai.
***