Chương 155: Ngoại truyện · Giấc mộng cũ (13)
***
Hạ Chính Thần không phản bác: “Không đạt thì không đạt thôi. Càng nghiên cứu tôi càng cảm thấy triết học giống một kiểu tự tẩy não hơn, có khi không đạt mới là trạng thái tỉnh táo.”
Nhưng sau đó ông lại hỏi: “Có điều, ông chắc chắn cả hai chúng tôi đều là Sisyphus sao? Có khi nào núi sập rồi, chỉ có mình tôi đứng trên đất bằng, còn chư thần vẫn ở trên trời không?”
“Ông nghĩ xem tại sao tối muộn thế này rồi tôi vẫn còn tới tìm ông?”
Cố Thiệu Tranh chậm rãi kể: “Buổi trưa mọi người đều chờ bà ấy về ăn cơm, bà ấy nói đã lên xe rồi, sau đó liền biến mất, không liên lạc được, đến bữa tối mới quay về. Chúng tôi chẳng ai hỏi, quen rồi.”
“Quen với việc bà ấy không từ mà biệt, quen với việc bà ấy đột nhiên xuất hiện. Năm đó thôn họ Mặc bị tàn sát, bà ấy từ biển trở về, nhà đã không còn nữa, trong phòng bà ấy, người đứng đầu Bát Môn, người ra quyết sách số một của quân Mặc Thủ là Mặc Thủ Trung đã dùng dao găm khắc lên tường một hàng chữ: Em gái, đừng báo thù, trốn đi, sống tiếp.”
“Câu nói ấy giống như một mệnh lệnh khắc vào tận xương bà ấy. Cảm nhận được nguy hiểm, phản ứng bản năng là trốn, không phải xử lý cũng không phải phản kháng, cho nên mỗi lần bà ấy chạy, không phải tôi dạy bà ấy chơi trò muốn bắt phải thả gì cả, mà là trực giác mách bảo có nguy hiểm nên mới muốn chạy. Ông cho rằng nguy hiểm bà ấy cảm nhận được là gì, sợ ông giết bà ấy sao? Ông có gì đáng sợ?”
Cố Thiệu Tranh bật cười: “Trong góc nhìn của ông, bà ấy là quay về trời, thật ra bà ấy chỉ trốn vào ‘hang chuột’ mà bà ấy cho là an toàn.”
“Lúc khớp xương của Tùng La bị bẻ gãy, tôi ở Bắc Yorkshire cùng bà ấy dưỡng thương, chúng tôi đều không biết chuyện đó. Sau này tôi biết rồi cũng không nói cho bà ấy, đợi tới khi bà ấy có thể chạy khắp nơi trở lại, ông đã là gia chủ mới của nhà họ Hạ, người của Thẩm Vô Gian đuổi giết người của chúng tôi, ai dám lại gần ông?”
Sau đó, Cố Thiệu Tranh thu nụ cười lại: “Ở vòng đầu tiên, vì Tùng La bị cướp đi, ông không chịu nổi, tin tức lớn như thế đáng lẽ tôi phải biết ngay từ đầu, cũng phải nhận ra có gì đó không ổn, không dám tiếp tục giấu nữa mà nói cho bà ấy biết. Bà ấy chắc chắn lập tức hiểu ra, cao thủ ẩn nấp bên cạnh ông khi đó không phải Môn Khách, mà là tên trộm đang chờ cướp Tùng La đi. Bà ấy nhất định rất tự trách, mặc kệ trọng thương, trái với mệnh lệnh ‘trốn đi, sống tiếp’ đã khắc tận xương, một mình đi tìm Thẩm Vô Gian, muốn giành con gái của hai người trở về…”
“Nói hơi nhiều rồi, không phải muốn giải thích gì, chỉ là cảm khái thôi, ngọn núi vận mệnh đã sập, chẳng ai trong chúng ta chống lại nổi.”
Cố Thiệu Tranh đổ phần vang đỏ còn thừa trong ly vào thùng rác, vừa rồi ngón tay ông đã nhúng vào đó.
Cũng không phải ông mắc bệnh sạch sẽ, mà là Hạ Chính Thần ngồi đối diện nếu nhìn thấy ông tiếp tục uống, ngoài miệng không nói nhưng cả người sẽ khó chịu.
Khi ông rót rượu lại, Hạ Chính Thần nói: “Được rồi, cảm xúc của ông ổn định rồi, về đi.”
Cố Thiệu Tranh không nghe, tiếp tục rót rượu: “Cho nên vừa rồi ông thấy tôi kích động, không đè nén được nữa, từ lúc lấy rượu ra, mỗi câu ông nói đều là để khống chế cục diện?”
Ông hơi ngẩng đầu: “Bây giờ cảm xúc tôi ổn rồi, lời cũng moi gần đủ rồi, thế là muốn đuổi tôi đi?”
“Nếu ông không vội thì cứ ngồi tiếp. Dù sao trang viên này cũng bị ông mua rồi, uống đi, trong tủ còn nhiều lắm, nhớ tính vào hóa đơn của mình.”
Hạ Chính Thần cầm điện thoại lên, cúi đầu trả lời tin nhắn của Thẩm Mạn: Chỗ tôi đột nhiên có khách, người đã hẹn bảo anh ta về trước đi, thù lao vẫn trả như cũ.
Thẩm Mạn: Vâng.
Hạ Chính Thần lại nhập một cái tên: Tìm người làm cầu nối, bắt liên lạc với người này.
Thẩm Mạn: Lấy danh nghĩa gì?
Hạ Chính Thần: Cá nhân, việc riêng.
Không đợi Thẩm Mạn trả lời, ông ném điện thoại sang một bên, rồi lại nhặt lên bổ sung một câu: Xếp lên trước.
Thẩm Mạn: Tôi hiểu rồi.
Hạ Chính Thần đứng dậy đi tới tủ rượu lần nữa, xách một chai rượu trắng trở về, biết Cố Thiệu Tranh không uống nổi nên cũng chẳng quan tâm ông ta.
“Đừng.” Cố Thiệu Tranh giơ tay ngăn lại, “Ông muốn mượn rượu giải sầu thì cũng phải chờ tôi đi đã. Tôi nghe nói rồi, con gái ông không cho ông đụng vào rượu trắng, lát nữa lại tính hết lên đầu tôi.”
“Hôm nay tôi làm thành công một chuyện lớn, vốn dĩ nên ăn mừng,trường hợp này con bé cho phép.” Hạ Chính Thần mở nắp chai, trực tiếp rót vào chiếc ly vang đỏ trước mặt, “Bị các ông quậy một trận, chẳng còn tâm trạng gì nữa.”
Cố Thiệu Tranh không khó để nghe ra giọng nói bực bội của ông, thuận theo hỏi: “Ông còn làm được chuyện lớn gì?”
Hạ Chính Thần ngẩng đầu liếc ông: “Đúng, tôi thì làm được chuyện lớn gì? Con người tôi cực kỳ kiêu ngạo, cậy tài khinh người, ích kỷ tự luyến, thiếu khả năng đồng cảm… Tất cả thành tựu của tôi đều đến từ huyết mạch, cả đời này chuyện duy nhất thật sự dựa vào bản thân làm nên được chính là nuôi dạy Tùng La thành người. Nếu không, từ đầu tới cuối tôi chỉ là một loser.”
Cố Thiệu Tranh bật cười: “Chuẩn bị tính sổ với tôi rồi? Chẳng phải vì muốn kích ông nói vài câu thật lòng nên mới bảo An cố ý nói như vậy sao?”
“Ông bôi nhọ tôi còn ít à?” Hạ Chính Thần nén lửa nhìn chằm chằm ông ta, “Buổi trưa Mặc Thủ An nói với tôi, năm đó kỳ nghỉ bắt tôi đi làm khổ sai là chủ ý của ông, nói muốn chữa cái bệnh giai cấp của tôi.”
Nụ cười của Cố Thiệu Tranh cứng lại trong thoáng chốc: “Thế là bán đứng tôi luôn rồi?”
Hạ Chính Thần chất vấn: “Tôi nói câu ‘nghèo sinh gian kế, giàu dưỡng lương tâm’ bao giờ? Nguyên văn của tôi rõ ràng là, khi con người có nhiều tài nguyên trong tay hơn, khả năng lựa chọn hướng thiện sẽ lớn hơn; khi tài nguyên thiếu hụt, chú ý của con người sẽ bị thu hẹp, sẽ quan tâm tới bản thân nhiều hơn. Ông Cố, xin hỏi câu này của tôi sai chỗ nào, rõ ràng tôi đang nói về vấn đề thu hẹp não bộ trong tâm lý học, ông lại bảo tôi kỳ thị?”
Cố Thiệu Tranh giải thích: “Tôi nói với bà ấy cũng là ý như thế, bà ấy tự hiểu thành nghèo sinh gian kế, giàu dưỡng lương tâm, tôi biết làm sao?”
Hạ Chính Thần không tin: “Đã hiểu ý tôi, cần gì phải ném tôi đi làm khổ sai?”
Cố Thiệu Tranh nói: “Không phải vì câu đó, là tôi cảm thán một câu về số phận bất công, ông đáp rằng một bộ phận người thiếu tài nguyên là vì chưa đủ nỗ lực. Tôi mới bắt ông đi làm khổ sai, để ông tự mình cảm nhận xem xã hội này không phải cứ bỏ bao nhiêu công sức thì sẽ nhận được phần thưởng tương xứng.”
Hạ Chính Thần nói: “Ông có biết xác định chủ ngữ không? Toàn dựa vào đầu nóng lên là phán à? Tôi nói một bộ phận người trong quần thể, tôi không nói tất cả mọi người, chuyện này vẫn thuộc phạm trù xác suất. Cuộc trao đổi đó từ đầu tới cuối tôi đều nhìn xác suất, nói về phân bố, ông ở trước mặt Mặc Thủ An tùy tiện chụp mũ tôi làm gì?”
Cố Thiệu Tranh im lặng một lát rồi nói: “Ông biết thứ khiến tôi không chịu nổi nhất ở ông là gì không? Bất kể trước mắt là cảnh địa ngục thế nào, từ đầu tới cuối ông đều nhìn xác suất, nói phân bố, hoàn toàn đứng ở góc độ người quan sát, ông hiểu không? Ông quá bình tĩnh, chị An An là một người máy mà còn giống con người hơn ông.”
Gương mặt Hạ Chính Thần không chút biểu cảm: “Nói đi nói lại, chẳng qua ông chê tôi kiêu ngạo, không có khả năng đồng cảm. Tôi rất muốn biết, tôi là người làm nghiên cứu khoa học, có phải nhà thơ đâu, tôi cần khả năng đồng cảm để làm gì?”
Ông uống cạn ly rượu trắng đầy pha lẫn vang đỏ kia, cầm chiếc ly rỗng chỉ về phía Cố Thiệu Tranh: “Cứ nhất định phải giống các ông, cảm tính và cảm xúc hóa mới gọi là bình thường, thế ông không kiêu ngạo sao? Cứ nhất định phải dùng tiêu chuẩn của ông, bắt tôi biến thành dáng vẻ ông cho là đúng, thế ông không kiêu ngạo?”
Mỗi lần nhớ lại quãng đời làm khổ sai ấy, Hạ Chính Thần thật sự rất đau lòng.
Thứ khiến ông đau lòng không phải thể lực bị lãng phí, mà là một tháng thời gian bị lãng phí. Đó là lãng phí thuần túy, hoàn toàn vô nghĩa.
“Nếu tôi cả ngày ăn không ngồi rồi, ngoài yêu đương ra chẳng làm gì, ông bắt tôi đi trải nghiệm cuộc sống, tôi nhận. Nhưng từ khi biết chữ, ngoài năm tiếng ngủ mỗi ngày, mắt tôi gần như chưa từng rời khỏi sách, đi bộ cũng đọc, ngay cả một món đồ chơi cũng chưa từng mua, đến mức mười tuổi thị lực đã có vấn đề.”
Cha ông biết thị lực ông giảm, phản ứng đầu tiên là nghi ông bị người dị năng nào đó hạ độc.
Khả năng cao ông là người đầu tiên trong cả gia tộc bị cận thị.
“Tôi học hành, thi cử, lấy bằng sáng chế, vào viện nghiên cứu, được đề cử nhận bằng tiến sĩ, chưa từng dựa vào thần thông. Thậm chí suốt đường đi đều là học bổng toàn phần, từ đại học trở đi, ngay cả học phí cũng chưa từng dùng một đồng của nhà họ Hạ.”
“Ngược lại, thân phận người nhà họ Hạ ngoài việc cho tôi có được con gái ra, phần lớn thời gian đều là gánh nặng.”
Hạ Chính Thần quyết định sang Stanford du học vào thời điểm sát thiên niên kỷ mới, bởi ngành địa vật lý khi ấy, nhóm dẫn đầu thế giới nằm ở Mỹ.
Ước mơ của ông là thông qua phương pháp khoa học, kết hợp với thuật Tạo Hóa gia truyền mình đã học, tìm hiểu rốt cuộc Nữ Oa đã nặn đất tạo người bằng cách nào.
Trong nhận thức còn nông cạn của ông khi ấy, Nữ Oa tạo người về bản chất là một thần thoại liên quan tới cấu trúc vật liệu và động lực dẫn động.
Ông thuần túy tò mò, nghiên cứu chỉ vì tò mò.
Nhưng những người bạn cùng lứa ra nước ngoài học vật liệu, học vật lý, học vật chất ngưng tụ với ông, rất nhiều người có ước mơ sau này trở về nước “phá rào cản”.
Cũng nhờ trò chuyện với họ, Hạ Chính Thần mới biết môi trường nghiên cứu khoa học và công nghiệp trong nước năm đó rơi vào hoàn cảnh thế nào.
Phần lớn thiết bị cao cấp, dụng cụ chính xác trên thị trường đều phụ thuộc nhập khẩu, hỏng rồi không ai biết sửa, muốn chờ kỹ sư xếp lịch phải đợi mấy tuần.
Còn vật liệu cấy ghép y tế cao cấp gần như bị bằng sáng chế nước ngoài độc quyền, đồ dùng để cứu mạng cũng giống hàng xa xỉ, phải cạnh tranh giá mới mua được, gia đình bình thường căn bản không đủ khả năng chi trả.
Đó là nỗi đau của cả một thời đại, Hạ Chính Thần lại được giáo sư hướng dẫn gửi gắm kỳ vọng lớn, nhìn những người bạn học đầy nhiệt huyết, trong lòng khó tránh khỏi xúc động.
Nhưng khi ông nói chuyện này với cha, cha lại một lần nữa lôi quy tắc gia tộc ra, nhắc ông ghi nhớ bài học tổ tiên năm đó chế tạo Mặc Thứ, phải làm một người qua đường của thời đại.
Đồng thời yêu cầu ông thề trước tổ tiên rằng không được dùng thần thông chế tạo máy móc vượt trước thời đại, không được đứng ở vị trí quá nổi bật, mang nguy cơ tới cho cả quần thể những người dị năng.
Nói đơn giản, đời này đừng nghĩ tới giải Nobel nữa, trong vật lý học chỉ được đi con đường người khác đã đi, tuyệt đối không được dẫn đầu.
Ông nghe hiểu, tiếp tục học vì sở thích.
Cho tới khi mười ngón tay và các khớp lớn ở tứ chi của Tùng La bị bẻ gãy sống sượng, biến thành phế nhân.
Những khớp xương đó đều do ông dùng đồng xanh tạo thành, sau khi Tùng La hóa thành người, đồng xanh cũng biến thành xương cốt. Về lý thuyết, chỉ cần trình độ y tế khi ấy đủ tốt, nắn chỉnh và cố định thích đáng thì có thể từ từ lành lại.
Nhưng cho dù ông đưa Tùng La tới Mỹ, tìm những chuyên gia chỉnh hình thuộc nhóm hàng đầu hội chẩn, kết luận đưa ra vẫn là khả năng rất cao sẽ để lại rối loạn chức năng vĩnh viễn, tức là tàn tật.
Hạ Chính Thần không dám mạo hiểm, cuối cùng quyết định liều thêm một lần, dùng thần thông giúp cô chữa lành.
Dòng sông thiên phú của ông đã chẳng còn bao nhiêu, xác suất thành công chừng tám mươi phần trăm, may mắn là thành công.
Nhưng ông vẫn ngày ngày nơm nớp lo sợ, ông đã chẳng còn lại bao nhiêu pháp lực, lỡ một ngày nào đó vấn đề khớp xương của Tùng La tái phát thì phải làm sao?
Hạ Chính Thần quyết định dùng kiến thức vật lý của mình nghiên cứu một loại “pháp khí” thời đại mới, một thiết bị cấy ghép hỗ trợ và phục hồi khớp xương, làm phương án dự phòng cho Tùng La.
Khái niệm không hề vượt thời đại, chỉ là lĩnh vực này vẫn chưa có sản phẩm nào tinh xảo hơn, thậm chí còn chẳng có dự án nghiên cứu phát triển.
Nhưng đây là thiết bị cấy ghép y tế, phải vượt qua những thí nghiệm tương thích sinh học, thí nghiệm động vật và thử nghiệm lâm sàng cực kỳ nghiêm ngặt, không phải chỉ cần ông nghiên cứu ra “động cơ” là có thể hoàn thành, cuối cùng Hạ Chính Thần lựa chọn hợp tác với Công ty Khoa học Sự sống Viridian của Mỹ.
Ông đặt tên cho dự án này: Xu Nguyên Trọng Sinh.
Ngôi sao thứ nhất của Bắc Đẩu, Thiên Xu, là trục vận hành của trời đất, chủ về “thủ trung”.
Mà Thiên Xu còn có một cái tên khác, Tham Lang, chủ về “phá cục”.
Cái tên Thiên Xu là dành cho con gái.
Còn Tham Lang là ông dành cho chính mình, Tham Lang thủ mệnh, cả đời không chịu ở dưới người.
“Tôi chết dí với nó suốt mười tám năm, vẫn chưa tiêu một đồng của nhà họ Hạ. Tự mình nâng đỡ Vân Nhuận, nghiên cứu phát triển đủ loại dự án khoa học kiếm tiền để nuôi cái dự án lớn này.”
“Ông có biết tôi cô độc đến mức nào không? Cả ngày đều dựng mô hình, chạy mạng tinh thể, tính phonon… thất bại hàng ngàn hàng vạn lần, cuối cùng cũng thành công.”
Hạ Chính Thần siết chặt chân ly, thứ ông uống quả thật chính là rượu mừng công.
Ngay từ trước, trên đường Tùng La đi Tân Cương, sản phẩm này đã được công bố, khi đang làm những công việc kết thúc cuối cùng, ông đã bỏ dở công việc để đuổi theo tới Tân Cương.
Bây giờ thiên phú của Tùng La đã thức tỉnh, cô không cần sản phẩm này nữa, nhưng Hạ Chính Thần không hối hận vì những năm tháng nghiên cứu ấy. Dù sao vốn dĩ nó cũng chỉ để đề phòng, làm phương án cuối cùng, không cần dùng tới mới là tốt nhất.
Hạ Chính Thần nhìn Cố Thiệu Tranh: “Biết hôm nay tôi họp gì không? Cuộc họp ba bên giữa Công nghệ Vân Nhuận của chúng tôi, Công ty Sinh học Viridian và phía đầu tư, chủ yếu là bàn định giá, đã bàn mấy vòng rồi. Động cơ do tôi nghiên cứu, phần lớn bằng sáng chế chủ thể đều nằm trong tay tôi, tôi có quyền tham gia quyết định mức giá trong nước, khiến họ không thể hét giá trên trời.”
“Quyền định giá chính là đồng cảm mà tôi có thể cho!”
Hạ Chính Thần cũng hơi say rồi, hiếm khi để “kiêu ngạo” lộ ra ngoài, viết rõ rành rành viết trên mặt: “Trong mười tám năm nghiên cứu hệ thống phục hồi này, tôi lấy được hơn ba mươi bằng sáng chế.”
“Từ cố định trong cột sống, vật liệu phục hồi khuyết xương, thích ứng cơ học vận động… bao phủ cả một đường đua trong lĩnh vực này.”
“Đều chỉ là tiện thể làm ra, cũng chẳng phải kỹ thuật cao cấp gì lắm, nhưng những bằng sáng chế này đã phá vỡ rất nhiều thế độc quyền của nước ngoài, kéo xuống không ít mức giá cao, chẳng phải có lợi cho những gia đình bình thường trong nước có nhu cầu sao?”
“Tôi không dựa vào thiên phú thần thông, tôi dùng thân phận một con người, dùng kiến thức vật lý mình học được, dùng bao năm nghiên cứu chuyên sâu để làm nên những thứ này, dựa vào đâu mà tôi không được kiêu ngạo?”
“Ông có biết những mô hình số kia nhàm chán đến mức nào không? Nếu tôi không có loại tâm thái gần như kiêu ngạo kiểu ‘tôi nhất định đúng, nhất định làm được, tôi vô địch thiên hạ’, ở những lần thất bại lặp đi lặp lại, chưa tới mười năm tôi đã bỏ cuộc rồi.”
Nói một hồi, hốc mắt Hạ Chính Thần bỗng chua xót: “Hôm nay giá đã chốt rồi, trên bàn đàm phán tôi giành được mức giá trong nước đúng như dự tính, vốn dĩ tôi nên rất vui. Kết quả cả ngày hôm nay tôi chỉ bị mắng, kể cả con gái tôi, không có lấy một người đứng về phía tôi. Các ông giỏi đồng cảm như vậy, sao chẳng ai đồng cảm với tôi một chút?”
Nhưng nói đi cũng phải nói lại, Hạ Chính Thần quả thật không có gì để phản bác, ông thật sự chẳng có thứ gọi là lòng dạ hay đại cục gì.
Bởi xuất phát điểm khiến ông làm những chuyện này không phải để thắp đèn cho người khác, cũng chẳng có sứ mệnh vĩ đại nào, chỉ đơn giản vì con gái mình.
“Không quan trọng nữa.”
Hạ Chính Thần tháo kính ném lên bàn trà, hai tay che mặt, cúi đầu: “Tôi mệt lắm rồi, không còn nhiều tinh lực để học cái gì gọi là khiêm nhường, hiểu cái gì gọi là đồng cảm, làm chuyện lớn lao gì nữa. Cả đời tôi cứ như thế thôi.”
“Giống như các ông nói ấy, ngoài việc nuôi dạy Tùng La cho tốt, tôi chính là một phế vật chẳng làm nên trò trống gì. Đức không xứng vị thì sao chứ.”
Cố Thiệu Tranh ngồi đối diện ông, nghe ông nói, bản thân cũng rót hết ly này tới ly khác vào bụng.
Hạ Chính Thần ngồi trên vị trí gia chủ nhà họ Hạ, buông mặc Mười hai Khách, chưa từng nghĩ tới việc ràng buộc, ở vị trí ấy mà không lo việc của vị trí ấy, quả thật là đức không xứng vị.
Nhưng bản thân Cố Thiệu Tranh cũng tệ hại, tệ đến tận cùng, tưởng mình là người tỉnh táo giữa nhân gian, cầm thước đo đạo nghĩa nhập cuộc, kết quả sai một bước, bước nào cũng sai, bây giờ ông gần như đã mất khả năng phân biệt đúng sai phải trái.
Hai người đều không nói nữa, cách một chiếc bàn trà, ai uống rượu người nấy, ai nuốt cay đắng người nấy.
Hai giờ rưỡi sáng, mấy đứa con trai của Cố Thiệu Tranh vẫn còn chờ bên ngoài, nhắn tin không trả lời, gọi điện không bắt máy, cũng không dám xông vào, chỉ có thể gọi cho Mặc Thủ An.
Mặc Thủ An hoảng hốt chạy tới, nhìn thấy hai người bọn họ ngồi song song trên thảm, vô cùng thoải mái tựa lưng vào sô pha, đang trò chuyện cực kỳ thân thiết.
Hạ Chính Thần: “Tôi nói ông nghe, thật ra tôi hoàn toàn chẳng quan tâm các ông nhìn nhận tôi thế nào. Đời tôi căn bản không cần đám trùng giày các ông chấm điểm.”
Cố Thiệu Tranh: “Trùng giày?”
Hạ Chính Thần: “Đúng, rất nhiều người trong mắt tôi đều giống mấy con trùng giày đơn bào.”
Cố Thiệu Tranh: “Thế con gái ông?”
Hạ Chính Thần: “Một con trùng giày ngốc nhất. Một bài toán, tôi dạy tám trăm lần, một cộng một vẫn bằng ba. Trời ạ, nếu không phải chính tay tôi tạo ra, tôi còn phải nghi xem có thật là con ruột mình không, có một thời gian ngày nào tôi cũng ngồi nghĩ Mặc Thủ An cũng đâu ngu đến thế. Rốt cuộc là chuyện gì? Trong nước Thiên Hà có trùng giày à, lúc hòa tan con bé thì hòa lẫn vào luôn?”
Hạ Chính Thần: “Nhất là từ lớp tám bắt đầu học vật lý, tôi đi họp phụ huynh, giáo viên vật lý của con bé chỉ nhỏ hơn tôi vài tuổi, cung kính với tôi hết mức, nói mình lớn lên bằng cách đọc luận văn của tôi, sau đó xấu hổ lấy bài thi của con gái tôi ra, tổng điểm 90 mà được 5 điểm, 5 điểm! Khoanh hết đáp án B còn được 25.”
Hạ Chính Thần: “Tổng tất cả các môn cộng lại đứng gần chót lớp, tôi ngồi hàng cuối cùng, nghe những phụ huynh khác nói, tiến sĩ vật lý Stanford, lão đại nghiên cứu từng đăng tạp chí hàng đầu mà còn không dạy nổi con, chúng ta cũng đừng lo lắng quá nữa nhỉ. Ông có biết cái gì gọi là chết vì xấu hổ không?”
Hạ Chính Thần: “Môn khác tôi không quan tâm, về nhà là tôi chết dí vào vật lý của con bé. Tôi dạy nó cách giảm lực ma sát, vừa gọt gỗ vừa bảo, giảm độ nhám của bề mặt tiếp xúc hoặc làm bề mặt tiếp xúc trơn nhẵn… Đến lúc thi, đề là bài kinh điển về lực kế lò xo, hỏi làm sao giảm ma sát giữa các khối gỗ, nó viết: Bảo cha em lấy dao gọt gỗ cho phẳng, cha em cái gì cũng biết, khi ấy nó đã mười ba tuổi rồi, đâu phải ba tuổi.”
Cố Thiệu Tranh: “Ông đừng than nữa. Dù sao Tùng La cũng là đứa trẻ ngoan, còn dễ dạy. Thật sự giao mấy đứa nhà tôi cho ông dạy, ông sẽ hộc máu mất. Tôi nói ông nghe, bẩm sinh chúng đã có khiếm khuyết, đứa nào đầu óc cũng như bị chập mạch.”
Cố Thiệu Tranh: “Còn Mặc Thủ An, càng là đồ thần kinh, hoàn toàn chính là chướng ngại vật trên con đường giáo dục con cái của tôi. Tôi nói trong gia đình lớn này phải có một người đóng vai hiền, một người đóng vai ác. Tôi quản nhiều, tôi đóng vai hiền, bảo bà ấy đóng vai ác làm người xấu, để bọn trẻ có một người phải sợ. Ông biết bà ấy làm thế nào không? Ngay trước mặt bọn trẻ, vung tay tát tôi một cái thật mạnh, xong còn đắc ý bảo đây gọi là giết gà dọa khỉ.”
Hạ Chính Thần: “Tôi còn không biết bà ấy à? Bà ấy còn chẳng bằng một con trùng giày đơn bào.”
Mặc Thủ An đứng sau lưng sô pha, nửa người hơi nghiêng về trước, khuỷu tay chống lên đỉnh tựa lưng, rũ mắt nhìn đỉnh đầu hai người rồi cười: “Thế tôi là gì?”
Đầu óc Hạ Chính Thần đã choáng váng, không phát hiện ra, thuận miệng nói: “Virus parainfluenza, nhẹ hơn cúm nhưng dai như đỉa. Cứ tưởng khỏi rồi thì bà lại tới, cứ tưởng đợt này né được rồi, sang năm bà vẫn quay lại như thường, mà cả đời cũng không tạo được miễn dịch.”
***