Chương 150: Ngoại truyện · Giấc mộng cũ (8)
***
Mỗi lần nhớ lại đến đoạn này, Hạ Chính Thần đều hận không thể thái Cố Thiệu Tranh thành một đĩa sashimi.
Thật ra trong màn lừa gạt này, Mặc Thủ An chẳng diễn kịch bao nhiêu.
Từ đầu tới cuối bà đều chẳng đặt quá nhiều tâm tư lên người ông, cứ thuận theo tính mình, muốn làm gì thì làm.
Hành động duy nhất của bà có thể gọi là “mưu kế” chẳng qua chỉ là mất liên lạc, biến mất.
Quanh đi quẩn lại cũng chỉ có một chiêu muốn bắt phải bỏ, chắc đây là sự phối hợp duy nhất bà có thể dành cho Cố Thiệu Tranh.
Trí nhớ của Hạ Chính Thần dù tốt đến đâu cũng chẳng nhớ nổi rốt cuộc bà từng biến mất bao nhiêu lần.
Chỉ có ba lần, từng chi tiết ông đều nhớ rõ mồn một, bởi đó là ba bước ngoặt quan trọng nhất trong phương trình vận mệnh của ông.
Mỗi một lần, Ác quỷ Laplace đều mất hiệu lực trên quỹ đạo vận mệnh của ông, tương lai trở nên không thể dự đoán.
Khiến ông lĩnh ngộ được rằng, ngoài cái chết là bài toán vô nghiệm, tình yêu cũng là hằng số tối hậu mà cả đời này ông không tính thấu, không giải nổi, cũng không ngăn được.
Lần đầu tiên chính là lần mất liên lạc ở Beirut này.
Gửi một tin nhắn, gọi hai cuộc điện thoại, sau khi đều bị từ chối, Hạ Chính Thần không tiếp tục dây dưa nữa.
Giáo dưỡng và lòng kiêu hãnh không cho phép ông đeo bám dai dẳng.
Cho dù trong lòng có gợn sóng, cũng tuyệt đối không cưỡng cầu.
Ngày hôm sau, ông đúng giờ bay tới Amman, lấy hành lý rồi chuyển chuyến bay về nước.
Đây là kỳ nghỉ đầu tiên sau khi ông vượt đại dương đi du học, cha ông, Hạ Tông Hằng, tới sân bay đón.
Khi nhìn thấy bóng người dường như là cha mình ở phía bên kia lối ra, toàn thân Hạ Chính Thần lập tức căng lên, phản ứng đầu tiên là ưỡn thẳng lưng, cài lại hai chiếc cúc trên cùng đang mở của áo khoác.
Hạ Tông Hằng mặc một bộ âu phục tối màu, đứng yên tại chỗ, nhìn con trai đi ra.
Chỉ có Môn Khách bước lên trước, cung kính nhận lấy vali của ông, thấp giọng nói: “Tiểu Hạ tiên sinh, Hạ tiên sinh vừa từ hội trường ra, không chậm trễ một khắc nào đã tới đây ngay.”
Đương nhiên Hạ Chính Thần sẽ không nghi ngờ cha coi trọng mình, dù sao ngay từ khi ông chào đời đã mở rộng dòng sông thiên phú ngày một khô cạn của cả gia tộc, rót vào gia tộc cổ xưa này sức sống mới.
Nhưng ông và cha mình không thân thiết, bởi trong lòng Hạ Tông Hằng không thật sự xem ông như một người con trai.
Từ khi Hạ Chính Thần bắt đầu hiểu chuyện, Hạ Tông Hằng đã truyền cho ông một nhận thức: “Xét trên ý nghĩa vĩ mô, con không chỉ là con trai của cha, con là sứ giả của thần linh, có thiên mệnh của riêng mình. Còn cha có thể trở thành cha của con là bởi cha cũng may mắn được thần linh lựa chọn, gánh vác sứ mệnh phò tá con.”
Những lời như vậy nghe nhiều, Hạ Chính Thần thật sự tin, suốt ngày chỉ băn khoăn rốt cuộc thiên mệnh của mình là gì.
Hạ Tông Hằng cũng không biết nhiều: “Lúc con chào đời, Đại Thiên Sư từng tới, nói rằng trong vòng một giáp, Thiên Hà có nguy cơ lật đổ, những người mang thiên mệnh ứng vận mà sinh sẽ có rất nhiều.”
“Tứ Phương Thiên Vương trấn tứ cực, Thần Cung Lương Tướng quét bát hoang, An Thế Thừa Linh hộ Cửu Lê.”
“Còn con không thuộc bất kỳ loại nào kể trên, tác dụng không lớn, nhưng lại là một mắt xích cực kỳ quan trọng để ứng phó kiếp nạn này. Con cần luyện sẵn ‘đá ngũ sắc’, làm chỗ dựa cuối cùng, thu dọn hậu quả cho mọi người.”
Đá ngũ sắc ai trên đời cũng biết, nhưng thành phần là gì?
Phải luyện thế nào?
Hạ Chính Thần hoàn toàn mờ mịt, từ nhỏ đã được cha dẫn dắt, chuyên tâm nghiên cứu đủ loại khoáng thạch và nguyên tố, sớm lựa chọn ngành khoa học vật liệu.
Cũng chỉ gần đây ông mới có chút lĩnh ngộ, “đá ngũ sắc” hóa ra không phải một loại khoáng thạch nào đó, mà hẳn là con gái ông, Hạ Tùng La.
Mọi lựa chọn của ông cuối cùng đều đi về phía thiên mệnh này.
Nhưng vào lúc ấy, “thiên mệnh” khó giải này vẫn luôn chiếm cứ ở nơi sâu nhất trong lòng ông, là căn nguyên khiến ông giãy giụa đau khổ.
Suốt kỳ nghỉ, ông đều ở nhà tự học triết học, bởi ông phát hiện những vấn đề mà thần học và khoa học đều không thể giải thích, triết học lại có thể.
Trong nhận thức của ông, triết học giống như một loại “thuốc giả” do loài người tự bịa ra cho chính mình.
Từ đó, thần học là thiên mệnh của ông, khoa học là hứng thú của ông, triết học là cứu rỗi của ông.
Tam giác có tính ổn định, nhờ bộ logic kín kẽ tự nhất quán này, ông dần dần quên đi giấc mộng quái đản từng trải qua ở Beirut.
Cho tới lúc thảo luận đề tài trực tuyến với bạn cùng phòng, đối phương thuận miệng nhắc tới: “May mà cậu về sớm rồi, chứ không phải bây giờ mới tới Beirut. Khu cảng trước đây cậu bị cướp gần đây loạn lên rồi, hôm qua vừa bị phong tỏa.”
Lòng Hạ Chính Thần đột nhiên trầm xuống, nhớ tới Mặc Thủ An từng nói bà định ở khu cảng.
Ông lập tức mở trang web tra tin tức quốc tế, vào thời đại thông tin vẫn chưa bùng nổ như lúc ấy, những cuộc xung đột cục bộ quy mô nhỏ ở khu vực không phải chiến khu thế này chỉ có lèo tèo mấy câu miêu tả đơn giản: Khu cảng xảy ra bạo loạn cục bộ, quân đội và cảnh sát địa phương đã kiểm soát.
Không có chi tiết, không có hình ảnh, không có bất kỳ thông tin dư thừa nào.
Nếu chưa từng tự mình đặt chân tới đó, ánh mắt Hạ Chính Thần lướt qua dòng chữ này sẽ chẳng dừng lại dù chỉ một giây, ảnh hưởng thậm chí còn không bằng một mẩu tin xã hội về hai băng tóc vàng đánh nhau ngoài đường lúc nửa đêm trong nước.
Nhưng ông đã từng tới, trong đầu lập tức dựng nên mô hình khu vực, sau đó từng tọa độ Mặc Thủ An từng đứng đều lần lượt sáng lên trong khung cảnh ấy.
Đợi khung cảnh mờ đi, trong đầu ông chỉ còn toàn là bà, bà với đủ loại thần thái biểu cảm.
Ông cứ tưởng mình đã quên rồi, hóa ra nước lũ sẽ không tự mình chảy đi.
Ông không có thời gian nghĩ quá nhiều, gọi điện cho bà, hy vọng bà đã rời khỏi Beirut, hoặc không ở khu cảng.
Nhưng điện thoại lại đang tắt máy.
Bà sống bên ngoài trật tự, đây là cách duy nhất Hạ Chính Thần có thể tìm được bà, ông chỉ có thể gọi đi gọi lại hết lần này đến lần khác, rồi hết lần này đến lần khác thất vọng.
Hai ngày sau, ông nói dối cha rằng mình phải trở về trường sớm, lần nữa lên đường tới Beirut.
Còn phải làm thế nào mới vào được khu vực phong tỏa ấy, ông không biết võ, không có sức chiến đấu, nhưng ông có cách của riêng mình.
Khoa học xã hội và nhân văn của trường bọn họ có một nhóm dự án chuyên nghiên cứu tình hình Trung Đông. Ông nói bạn gái mình bị mắc kẹt bên trong, khẩn cầu giáo viên giúp mình nghĩ ra vài phương án thông hành chính quy.
Cuối cùng đích thân giáo sư hướng dẫn của ông ra mặt, lấy lý do khảo sát đề tài để giúp ông xin được giấy phép thông hành đặc biệt dành cho học giả.
Giữa ban ngày, ông dựa vào giấy phép đặc cách này, thông suốt không gặp trở ngại tiến vào khu phong tỏa ở cảng.
Do quân đội kiểm soát, nơi đây còn an toàn hơn trước, ông tìm thấy bà ở khu tập trung những căn nhà container mà Mặc Thủ An từng nói là “cũng không tệ”.
Cho tới tận bây giờ Hạ Chính Thần vẫn nhớ rõ, khoảnh khắc Mặc Thủ An nhìn thấy ông, vẻ kinh ngạc và chấn động cuộn trào trong mắt không thể nào là diễn, bà không có diễn xuất như thế.
Cho nên tới tận bây giờ ông vẫn không hiểu, nếu không phải Cố Thiệu Tranh dặn bà ở đó đợi ông tìm tới, tại sao bà vẫn luôn ở nguyên nơi ấy?
Với bản lĩnh của bà, bất cứ lúc nào cũng có thể rời đi.
Sau khi hết chấn động, Mặc Thủ An nghe ông kể xong thì nhíu mày mắng ông là đồ thần kinh: “Cậu có giấy phép đặc cách, còn kiếm được cả suất cho người đi cùng, nhưng cậu biết rất rõ tôi không có thân phận chính quy, không thể cùng cậu đi ra ngoài. Rốt cuộc cậu vào đây làm gì? Lo tôi chết à? Cậu chưa từng thấy thân thủ của tôi sao, có biết tôi sống tới hôm nay bằng cách nào không?”
Hạ Chính Thần bị mắng một trận, không phản bác, lấy xấp đô la lần trước muốn đưa cho bà ra, không có bất kỳ thứ gì bọc lại, cứ thế trần trụi đưa qua.
“Thông thường những nơi bị phong tỏa sẽ thiếu lương thực, giá cả tăng vọt.” Ông nhìn vào mắt bà, “Tôi sợ cô đói.”
Cảm xúc trong đáy mắt bà phức tạp khó phân biệt, rất lâu sau mới nói: “Cậu tự chuốc lấy đấy.”
Đó chính là khởi đầu của bọn họ.
Ít nhất đối với Hạ Chính Thần, đó là khởi đầu cho một chương mới trong cuộc đời ông.
Bởi từ khoảnh khắc ấy, ông bắt đầu hoài nghi quy định mà tổ tiên nhà họ Hạ sửa đổi sau thời Minh, hoài nghi một lời dạy vô cùng quan trọng cha vẫn luôn truyền lại.
“Cảm xúc là nước lũ, chỉ cần không ngăn cản, nó sẽ tự mình chảy đi.”
Hạ Chính Thần dùng chính trải nghiệm của bản thân để chứng minh rằng đây là sai lầm, sai hoàn toàn.
Nước lũ nếu không được dẫn dòng và trị lý sẽ cuốn qua ruộng tốt, nhấn chìm thành trấn, xác nằm la liệt khắp nơi. Sau đó là dịch bệnh, là nạn đói.
Bình yên cuối cùng rơi xuống thật ra chỉ là một vùng hoang phế không còn ngọn cỏ.
Mà những dòng nước lũ bị phớt lờ ấy cũng không thật sự biến mất, chúng đều tích tụ ở một nơi nào đó sâu trong lòng.
Một người càng dồi dào cảm xúc, phớt lờ càng lâu, nước lũ tích tụ sẽ càng nhiều.
Chỉ đợi một cơ hội, nó sẽ giống như Cộng Công húc đổ núi Bất Chu, thiên trụ gãy, Thiên Hà nghiêng đổ.
Sau khi Hạ Chính Thần lĩnh ngộ được những điều này, lúc dạy dỗ Tùng La không bao giờ còn bắt cô phải làm một “người nhà họ Hạ hiểu chuyện” nữa.
Không cần giữ dáng vẻ, không cần cố gắng chống đỡ, đau thì khóc, ấm ức thì nói, muốn yếu đuối thì cứ yếu đuối, thích thì đường đường chính chính nói “con muốn”.
Hạ Chính Thần ném hết những gia huấn uốn nắn quá đà kia sang một bên, hoàn toàn làm ngược lại nền giáo dục mà bản thân từng tiếp nhận.
Chỉ đáng tiếc, đã dốc hết sức nuôi dạy thành hai kiểu hoàn toàn khác nhau, vậy mà Tùng La vẫn y hệt ông, ngã vào tay một tên tóc vàng.
Hạ Chính Thần ngồi trong khu tiếp khách, ánh mắt vẫn dừng trên chai nước khoáng Mặc Thủ An để lại, nghĩ mãi rốt cuộc tại sao lại thành thế này?
Chẳng lẽ thích tóc vàng đã khắc vào gen của ông rồi?
Di truyền bẩm sinh cho Tùng La, mặc kệ giáo dục thế nào cũng không che giấu nổi?
Đầu Hạ Chính Thần đau đến mức không chịu nổi, chẳng còn tâm trạng lên lầu họp, tiếp tục ngồi ở đây.
Ông nhìn đồng hồ đeo tay, ước tính thời gian ở Kuala Lumpur, giờ này con gái vẫn chưa ngủ.
Ông gửi một tin nhắn: Trả số tiền đó lại đi, không phải cha không cho con nhận, bảo bà ấy tự kiếm tiền rồi cho con.
Tùng La chắc đang chơi game, rất nhanh đã trả lời bằng tin nhắn thoại: “Tự kiếm tiền? Chẳng lẽ số tiền này mẹ đi cướp về à?”
Hạ Chính Thần nghe thấy tiếng “mẹ” này, sắc mặt trầm xuống, trực tiếp gọi điện sang: “Không cho tiền thì gọi thẳng Mặc Thủ An, vừa cho tiền đã bắt đầu gọi mẹ? Nếu con biết số tiền này thật ra là Cố Thiệu Tranh cho, có phải định đổi giọng gọi ông ta là cha nuôi không?”
Tùng La dường ngẩn ra: “Tiền là mẹ mượn chú Cố à?”
Hạ Chính Thần nói: “Không trả nổi thì không gọi là mượn. Cha đồng ý cho con nhận bồi thường của bà ấy, với điều kiện bà ấy phải dựa vào bản lĩnh của mình mà kiếm tiền.”
Tùng La lại nói: “Thế chẳng phải cũng là dựa vào bản lĩnh kiếm được tiền sao? Chú Cố không phải người ngốc, mà còn là một Mưu Khách thông minh. Mẹ có bản lĩnh khiến một Mưu Khách lấy ra một khoản tiền lớn như vậy cho mẹ, sao lại không tính là bản lĩnh chứ?”
Bàn tay cầm điện thoại của Hạ Chính Thần run lên hết lần này đến lần khác, rất lâu vẫn không thể mở miệng nói chuyện.
Tùng La: “Cha? Sao thế?”
Giọng Giang Hàng lành lạnh truyền tới: “Bị em đâm một dao chết rồi. Quả nhiên, nhát dao đau nhất vẫn là nhát con ruột đâm.”
***