Chương 165
***
Ngày mồng năm tháng hai, ba người nhóm Chu Mãn rời khỏi Tiểu Kiếm cổ thành, lên đường đến Bạch Đế Thành. Vì Vọng Đế đã dặn dò phải đến nơi trước tiết Thanh Minh, tính ra còn hơn hai mươi ngày nữa, thời gian dư dả, nên họ chỉ chọn một chiếc thuyền nhỏ, đi đường thủy, xuôi dòng sông xuống phía nam rồi rẽ sang hướng đông.
Hơn nửa tháng sau, thuyền ra khỏi địa phận Thục Châu, tiến vào Trung Châu.
Bấy giờ đang là độ đầu xuân, đứng trên mũi thuyền phóng mắt nhìn ra xa, thấy đôi bờ sóng nước êm đềm, nước sông xanh biếc. Những dãy núi hiểm trở trập trùng sau khi ra khỏi đất Thục dường như cũng trở nên hiền hòa hơn nhiều, con thuyền trôi trên mặt nước chỉ tựa như một chiếc lá tĩnh lặng.
Chu Mãn hiếm khi được nhàn rỗi, có lúc buổi sớm ngắm sương mù mịt mờ giăng lối bãi sông, có khi chạng vạng ngắm tịch dương ngang núi chìm vào bóng buồm. Nếu gặp đêm đẹp trời, nàng sẽ bị Kim Bất Hoán kéo ra, đón lấy chén rượu ấm từ tay Vương Thứ, ngồi trên nóc thuyền ngắm dải Ngân Hà rực rỡ đổ xuống lòng sông…
Chỉ là thuyền đi càng lâu, tâm sự trong lòng càng nặng.
Bạch Đế Thành nằm ngay cửa hẻm Cự Đường thuộc đoạn sông Trung Châu, tọa lạc trên một hòn đảo giữa lòng sông, ba mặt đều là vách núi hiểm trở, xa xa đối diện với Vu Sơn quanh năm mây mù lượn lờ ở phía đông.
Đến ngày hai mươi lăm tháng hai, khoảng cách đến cửa hẻm Cự Đường chỉ còn lại hai mươi dặm đường thủy.
Chu Mãn ngồi ở mũi thuyền, rốt cuộc lại lấy hai món đồ mà Vọng Đế giao cho mình ra xem xét kỹ lưỡng.
Một bức thư tuyệt bút của Tạ Điệp Sơn.
Một thỏi chu sa đính kèm trong thư.
Sáng sớm, sương mù chưa tan, Kim Bất Hoán từ trong khoang thuyền bước ra, vươn vai một cái, liếc mắt thấy nàng liền hỏi: “Vẫn đang nghĩ ngợi à?”
Trước mặt Chu Mãn đang trải tấm bản đồ Bạch Đế Thành mượn từ chỗ Kim Bất Hoán, nghe vậy nàng không ngẩng đầu lên, chỉ nói: “Trước khi Tạ Điệp Sơn chết giao bức thư cùng vật này cho Vọng Đế bệ hạ, ắt có điều gửi gắm… Tại sao Võ Hoàng ngã xuống, tại sao Thanh Đế mất tích, tại sao Bạch Đế đọa ma… Ta luôn cảm thấy, mấu chốt của chuyến đi Bạch Đế Thành lần này nằm ở ngay hai vật này. Bức thư tuyệt bút dường như có ý ám chỉ…”
Kim Bất Hoán nói: “Trong thư, hai câu đầu ‘’Mượn bút rời nước ba ngàn dặm, vung hào tự phụ tám vạn thước’, ‘mượn bút’ là nói ông ấy mang theo cây Thần Lai Bút rời khỏi Đỗ Thảo Đường, sau đó rời Thục Châu, du ngoạn thiên hạ, tranh vẽ ra nhiều không đếm xuể.
Hai câu giữa ‘Thường ngày phân biệt rõ trắng đen, mắt khô ôm hận ai tỏ bày’, người xưa dùng từ ‘mắt khô’ để chỉ bệnh về mắt, câu này chắc là nói bản thân ông ấy trời sinh có tật ở mắt, chỉ nhìn thấy đen trắng, không phân biệt được năm màu, trong lòng có hận mà không ai biết. Nhưng trong thơ Đỗ Thánh cũng có câu ‘Chớ để mắt khô cạn, thu lại lệ tuôn hoành’, ‘mắt khô’ ở đây lại chỉ nước mắt đã cạn khô. Không biết lão nhân gia Họa Thánh rốt cuộc dùng với ý nào.
Còn câu cuối cùng, ‘Đầu bạc chết vẫn vẽ lòng đau đớn, ý nói đến già đến chết vẫn tô vẽ tranh tranh, nhưng không tránh khỏi gan ruột đứt từng khúc, chỉ là câu ‘Lòng son gửi gắm tranh xanh biết’…”
Chu Mãn tiếp lời: “Tranh xanh chính là tranh vẽ, có lẽ Tạ Điệp Sơn đã giấu chân tướng vào trong tranh. Ta vào Bạch Đế Thành, hẳn là phải đi tìm một bức tranh.”
Kim Bất Hoán bước tới, nhặt thỏi chu sa nàng đang chặn trên giấy viết thư lên, suy tư nói: “Hơn nữa vật này chắc chắn là mấu chốt. Họa Thánh vốn không phân biệt được đen trắng, thời đó tranh thủy mặc chưa được biết đến rộng rãi, ông ấy lại chỉ vẽ tranh thủy mặc, dựa vào sức mình khai sáng ra ‘Phái tranh Cự Đường’, người đời sau học theo rất nhiều. Thế nhưng trong thư tuyệt bút của ông ấy, ‘Đan tâm’, ‘Đan thanh’, liên tiếp xuất hiện hai chữ ‘Đan’. Đan, chính là màu đỏ, chẳng phải ứng với khối chu sa này…”
Chỉ là khi nói đến hai chữ “chu sa”, giọng hắn bỗng nhỏ dần.
Hắn nhìn chằm chằm vào thỏi chu sa này, chẳng biết tại sao lại nhíu mày.
Chu Mãn đang lấy làm lạ thì thấy Kim Bất Hoán quay đầu lại, bỗng nhiên gọi lớn: “Bồ Tát!”
Trong khoang thuyền chật hẹp kê một chiếc bàn sách, ngọn đèn dầu đêm qua vừa mới tắt, một làn khói xanh lượn lờ bay lên từ đĩa đèn.
Vương Thứ đang ngồi giữa đống giấy tờ lộn xộn cúi đầu viết lách, nghe vậy ngẩng lên, dường như không hiểu.
Kim Bất Hoán bèn nói: “Tạm gác mấy cuốn y thư của ngươi lại đã, ra đây xem cái này.”
Vương Thứ nghe giọng điệu hắn có chút bất thường, lúc này mới gác bút, bước từ trong khoang thuyền ra hỏi: “Sao vậy?”
Chu Mãn ngẩng đầu nhìn hắn, mới qua hơn nửa tháng, vẻ mặt hắn càng trắng bệch thêm nhiều phần, nhưng ngược lại với sắc mặt, ánh sáng ẩn trong cốt cách lại càng lúc càng rực rỡ, tựa như thể xác này đã tàn tạ không sao chứa nổi thần hồn bên trong, đành phải len lỏi qua khe hở của mày mắt mà tràn ra ngoài, khiến người ta nhìn thấy thì lóa mắt, nhưng ngẫm lại thì không khỏi sinh lòng lo âu.
Kim Bất Hoán đưa thẳng thỏi chu sa kia cho hắn: “Đây có phải là chu sa không?”
Một khối nhỏ xíu, không có bất kỳ hoa văn ấn ký nào, nhưng màu đỏ bên trong dường như đang sống, lờ mờ chuyển động, thậm chí vặn vẹo cuộn xoắn.
Vương Thứ đón lấy: “Chu sa màu sẫm, khí nhẹ vị nhạt. Vật này không giống, trông nó giống…”
Hắn bỗng nhiên có chút chần chừ.
Trong lòng Chu Mãn đã sớm có suy đoán, lúc này bèn nói: “Giống máu người hơn phải không?”
Vương Thứ ngước mắt nhìn thẳng vào nàng, cuối cùng cũng gật đầu.
Kim Bất Hoán đứng bên cạnh, nghe vậy không kìm được giật thót mí mắt, sau đó hỏi ra điểm mấu chốt: “Nhưng vấn đề là, máu của ai?”
Đầu thuyền bỗng bao trùm một sự im lặng đầy ngột ngạt.
Hồi lâu sau, Chu Mãn mới nói: “Chuyến đi này có lẽ còn hung hiểm hơn chúng ta tưởng tượng.”
Kim Bất Hoán nói: “Cũng không còn xa Bạch Đế Thành nữa, nghe nói thành này trước đây không hoan nghênh khách lạ, phàm là người đến thăm đều phải tự họa chân dung mình ném vào cổng thành, báo rõ tên họ. Sau trận chiến Tru Tà lại càng khắt khe hơn, chỉ có người cầm lệnh mực do chính tay Tạ Điệp Sơn chế tác năm xưa mới được vẽ tranh để vào thành. Các người đã nghĩ lát nữa sẽ vẽ thế nào chưa?”
Vương Thứ rũ mắt, dường như đang suy tư.
Chu Mãn lại nói: “Nghĩ cũng vô dụng, cứ xem đến lúc đó vẽ được gì đã. Dọc đường đi sóng yên biển lặng, nhưng người của thế gia sẽ không dung tha cho ta. Nghe tin từ Thục Châu truyền đến, Kính Hoa phu nhân đã dẫn theo một đám đông rời khỏi Thần Đô, e rằng kịch hay đều đang chờ ở cổng Bạch Đế Thành đấy.”
Vương Thứ nói: “Nhưng nếu vào được trong thành, có tấm bản đồ này của Kim Bất Hoán, ít nhất chúng ta cũng chiếm được tiên cơ hơn người khác.”
Kim Bất Hoán nhìn tấm bản đồ trên sàn thuyền: “Nhưng tình hình trong thành hiện giờ ra sao, chúng ta hoàn toàn mù tịt. Nếu đi cùng nhau thì không sao, nhưng lỡ chẳng may lạc nhau…”
Vương Thứ ngẫm nghĩ, tùy ý chỉ vào một điểm bên trái bản đồ: “Cũng dễ thôi, chi bằng định trước một địa điểm, chỗ này đi. Nếu lạc nhau, chúng ta sẽ đến đây hội họp.”
Đó là một tòa trạch viện ở phía tây thành, trong viện có đánh dấu một lá cờ hiệu.
Chu Mãn nói: “Đây đúng là cách hay, ngoài ra thì chỉ có thể tùy cơ ứng biến thôi.”
Thế là nàng cùng Kim Bất Hoán lẳng lặng ghi nhớ phương vị của tòa trạch viện này, thậm chí ghi nhớ cả tấm bản đồ để đề phòng vạn nhất.
Chẳng bao lâu sau, thuyền lại xuôi dòng đi thêm hơn mười dặm.
Chu Mãn quay đầu nhìn màn sương dày đặc phía trước, đáy mắt lướt qua một tia tím sẫm u tối, bỗng nhiên cho thuyền neo lại sau một gốc cây già mọc ngược bên bờ: “Đến rồi.”
Kim Bất Hoán và Vương Thứ nhìn xuyên qua tán lá thưa thớt của cây già về phía trước, nhưng chỉ thấy sông lớn sương trắng mênh mông, chẳng thấy gì cả.
Vương Thứ hỏi: “Thế nào?”
Nhưng Chu Mãn tu luyện “Tử Cực Tuệ Nhãn”, thị lực lúc này có thể dễ dàng nhìn xuyên qua sương mù dày đặc, ấy thế mà nhìn một lát, mày nàng lại nhíu chặt, vô cùng khó hiểu: “Không phải nói Bạch Đế Thành nằm trên đảo giữa sông ở cửa hẻm Cự Đường sao? Sao ta lại không thấy…”
Kim Bất Hoán lập tức kinh ngạc: “Không có ư?”
Ngay sau đó, trên sông nổi lên một trận gió lớn, thổi tan đi không ít sương mù đang bao phủ mặt sông.
Kim Bất Hoán và Vương Thứ định thần nhìn lại, lúc này cuối cùng cũng thấy rõ, hai bờ vách núi dựng đứng, cây cối mọc ngược kỳ quái, một tảng đá ngầm khổng lồ đứng sừng sững bất động giữa dòng nước xiết, chính là “Diễm Dự Đôi” trong truyền thuyết mà thương nhân phàm tục sợ nhất.
Dòng sông đến đây chảy xiết hơn hẳn.
Thế nhưng theo ghi chép, Bạch Đế Thành đáng lẽ phải xuất hiện phía trước “Diễm Dự Đôi” này, vậy mà lại chẳng thấy tăm hơi đâu!
Vương Thứ nói: “Vọng Đế bệ hạ dặn phải đến trước mưa Thanh Minh, chúng ta không hề lỡ giờ, sao lại không có?”
Chu Mãn đang mải suy tư, bất chợt một giọt mưa từ trên trời rơi xuống, rớt trúng giữa mày nàng: “Mưa?”
Tức thì một tia chớp xẹt qua trong đầu, nàng ngẩng đầu nhìn lên bầu trời!
Gió trên mặt sông càng thêm dữ dội, quần sơn gào thét trong gió! Màn sương dày đặc buổi sớm bỗng chốc bị thổi ngược trở lại, càng thêm nồng đậm.
Mưa gió rào rạt trút xuống.
Mặt sông chảy xiết tức thì bắn lên vô số bọt nước, lờ mờ dường như nghe thấy một khúc hát bi thương ai oán, đất trời bỗng mất đi màu sắc vốn có.
Nước sông dưới đáy thuyền hòa thành một màu đen kịt.
Sương mù giữa núi non cuộn lên trắng xóa như tuyết.
Thế giới thực tại dường như đã bị nét bút để lại của Họa Thánh che phủ, một tòa thành trì nguy nga chỉ có hai màu đen trắng, rốt cuộc cũng như một cuộn tranh, nương theo màn mưa xối xả tựa rèm châu, từ trên đỉnh vòm trời rủ xuống từ từ mở ra, buông mình xuống mặt sông.
Đâu phải là Bạch Đế Thành nằm trong tranh? Rõ ràng là Bạch Đế Thành vừa xuất hiện liền biến cả thế giới này thành một bức tranh!
Phóng mắt nhìn ra xa, giữa lòng sông nổi lên một cồn cát nhỏ tựa như hòn đảo nổi, nâng đỡ lấy tòa thành trì. Bên trong những bức tường thành cao ngất, ngói chạm mái cong, nét bút cực kỳ tinh tế, giữa những đình đài lầu các nhấp nhô, hoa cỏ trúc đá lại được vẽ bằng những nét bút mạnh mẽ phóng khoáng. Cách một màn mưa bụi mờ ảo, thậm chí có thể nhìn thấy những bóng người lờ mờ đi lại trong thành, sống động như thật.
Ba người nấp sau gốc cây, không kìm được nín thở.
Ngay cả kẻ dốt đặc cán mai về hội họa như Chu Mãn lúc này cũng cảm nhận được khí thế hùng hồn phả vào mặt của tòa họa thành này, cả người như bị hớp hồn.
Vương Thứ lại càng xúc động, thậm chí vành mắt đã hơi đỏ: Đây chính là nơi cha mẹ hắn chôn xương gửi cốt…
Duy chỉ có Kim Bất Hoán, càng nhìn càng nhíu mày, bỗng nói: “Có chút kỳ quái.”
Chu Mãn nghe vậy quay đầu nhìn hắn.
Kim Bất Hoán bèn giơ quạt chỉ: “Nhìn hai bên trái phải xem.”
Tòa thành trì rủ xuống từ trên trời này tuy đều chỉ vẽ bằng hai màu đen trắng, nhưng hai bên trái phải lại không giống nhau.
Nửa thành bên trái phía Tây, là nền trắng tranh đen; nửa thành bên phải phía Đông, lại là nền đen tranh trắng.
Nhìn tổng thể, nửa thành phía Tây màu trắng, nửa thành phía Đông màu đen, cùng một tòa thành trì, thế mà lại vẽ đen trắng rạch ròi. Hai bên vốn dĩ phải có phần tiếp giáp chuyển đổi giữa đen và trắng, nhưng dường như đã bị nước mưa làm nhòe đi, trở thành một mảng xám mờ mịt không rõ.
Lúc này Vương Thứ mới hơi hoàn hồn: “Nghe nói Họa Thánh cũng từng học qua thuật khắc bia đá, cách vẽ của hai bên Đông Tây tòa thành này trông rất giống với ‘Dương khắc’ và ‘Âm khắc’. Ở giữa lẽ ra phải có phần âm dương điều hòa, liên kết Lưỡng Nghi, nhưng có lẽ do trận chiến Tru Tà hai mươi năm trước, tòa thành này rốt cuộc bị tổn hại, bị mưa xâm lấn, chúng ta vô duyên không được thấy rồi.”
Chu Mãn lại chẳng nghĩ nhiều đến thế, chỉ khẽ lẩm bẩm: “Bạch Đế Thành đã hiện, chúng ta làm sao vào thành?”
Lời vừa dứt, bỗng thấy trên mặt sông có mấy bóng người lướt nhanh qua, tiến lại gần họa thành: “Là đám Vương Cáo!”
Gần như ngay khoảnh khắc mấy bóng người này tới gần, trong thành có cảm ứng vang lên tiếng chuông ngân, giấy trắng bay lả tả đầy trời! Hai dòng chữ lớn nét bút phóng khoáng đột ngột hiện lên trước cổng, cao gần bằng cả tòa thành.
Thành của Bạch Đế, không nhận khách ngoài. Nếu có người thăm, tự họa chân dung, xưng tên báo họ, ném vào trong cửa.
Kim Bất Hoán nói: “Quả nhiên là phải vẽ chân dung của chính mình.”
Chu Mãn lại bỗng nhíu mày: “Sao Vương Mệnh cũng ở đó?”
Mấy bóng người kia đáp xuống vững vàng trước Bạch Đế Thành, đếm kỹ thì có sáu người. Ngoài bốn người Tống thị là Tống Lan Chân, Tống Nguyên Dạ, Triệu Nghê Thường và Lục thị là Lục Ngưỡng Trần, thì hai người Vương thị là Vương Cáo và Vương Mệnh đều có mặt!
Nhưng họ đều biết rõ, tại Đình Tẩy Trọc ở Thanh Giang Khẩu, Vương thị đã bị cướp mất hai tấm lệnh mực…
Lệnh mực của Tông Liên chắc chắn đưa cho Vương Cáo, Vương Cáo đến thì không lạ, nhưng sao Vương Mệnh cũng đến được?
Trước Bạch Đế Thành, Vương Cáo vận một thân áo bào đỏ rực như lửa, ánh mắt từ xa rơi vào tòa thành trì đen trắng trước mắt, cười đầy tà khí: “Thật hiếm thấy, ta cũng không biết phụ thân coi trọng ngươi đến mức này từ bao giờ, thà đi mượn một tấm lệnh mực của Tống thị cũng phải để ngươi cùng vào tòa thành này. Chỉ tiếc uất ức cho Tống tiểu thư…”
Vương Mệnh đứng ngay sau lưng hắn không xa, nghe vậy thì nắm chặt hai tay trong nỗi nhục nhã.
Nhưng vẻ mặt Tống Lan Chân hờ hững, coi như không nghe thấy gì.
Vương Cáo quay đầu nhìn hai người này, đột nhiên thấy mất hứng, dứt khoát mặc kệ bọn họ: “Bản công tử vẽ thử vài nét trước xem sao.”
Dứt lời đi về phía cổng thành.
Đám người Lục Ngưỡng Trần cũng đi theo sau.
Chỉ có Vương Mệnh đứng nguyên tại chỗ, trơ mắt nhìn Tống Lan Chân sắp đi lướt qua mình, rốt cuộc mới hỏi: “Nàng không hận ta sao?”
Tống Lan Chân dừng bước: “Hận huynh cái gì?”
Vương Mệnh nói: “Lệnh mực của ta là do nàng đi Thục Châu đòi về. Nàng vốn đã từ chối ngôi vị Kiếm thủ trước mặt người trong thiên hạ, nếu không phải vì ta, hà cớ gì…”
Tống Lan Chân tiếp lời: “Hà cớ gì phải lật lọng, để cho thiên hạ chê cười?”
Vương Mệnh nhìn nàng, không dám tưởng tượng với bản tính kiêu ngạo xưa nay của nàng, giờ phải vứt bỏ lòng tự trọng là nỗi nhục nhã to lớn dường nào.
Nhưng Tống Lan Chân nói xong, lại bật cười: “Hận huynh thì có tác dụng gì? Ta nếu có hận, cũng chỉ hận bản thân không đủ mạnh, hận Tống thị không đủ mạnh, cũng đa tạ vị phụ thân tốt kia của huynh, ta mới biết thế gia tuy cao cao tại thượng, nhưng hóa ra thế gia cũng chia ba bảy loại. Có người cố nhiên sinh ra là dòng dõi trâm anh, nhưng còn có người là trâm anh trong trâm anh.”
Trong lời nói ẩn chứa ý châm chọc, rõ ràng là ám chỉ Vương Mệnh!
Nhưng kẻ nàng hận rốt cuộc không phải Vương Mệnh: “Đáng tiếc, ta tất nhiên là chịu nhục nhưng ông ta cũng đâu đoái hoài gì đến mặt mũi của huynh? Huynh chẳng qua cũng giống như ta, là quân cờ bị người khác xoay vần trong tay, không phản kháng được mà thôi.”
Ngày đó sau khi tiễn Vương Thiết, giết Trần Trọng Bình, tâm trạng nàng không hề dao động kịch liệt như tưởng tượng.
Ngược lại, chỉ còn lại một sự bình thản đến kinh người.
Thậm chí sau khi rửa sạch vết máu, nàng vẫn giữ nguyên vẻ mặt sai người đến khiêng thi thể Trần Trọng Bình xuống, mượn những vết thương vốn có trên người lão mà nói dối rằng Trần Trọng Bình gặp mai phục ở đất Thục, chết trong tay đám người kia và Chu Mãn. Nàng còn đường hoàng triệu tập trên dưới Tống thị cùng tàn bộ Trần gia, tế trời thề thốt, muốn đòi nợ máu cho Trần trưởng lão và cả Trần gia, sau đó trơ mắt nhìn mọi người xúc động rơi lệ, quần tình phẫn nộ, đồng chung mối thù…
Khoảnh khắc đó, nàng mới biết đùa bỡn lòng người mà không chút áy náy, lại tuyệt diệu đến thế.
Tống Lan Chân khẽ thở ra một hơi, nhìn khuôn mặt Vương Mệnh đã bị nước mưa làm nhòe đi, không chút che giấu sự châm ngòi và ác ý của mình: “Huynh tên là Vương Mệnh, làm quân cờ cho người, làm con cái cho người, có lẽ chính là số mệnh của huynh. Nhưng cái mệnh này, huynh thật sự cam tâm nhận sao?”
Vương Mệnh đột nhiên nhìn nàng, toàn thân chấn động.
Nhưng Tống Lan Chân nói xong, lại như chưa nói gì cả, thu hồi ánh mắt, cứ thế thản nhiên rời đi.
Từ xa Chu Mãn chỉ có thể thấy bọn họ nói chuyện một hồi, nhưng không nghe được tiếng, không biết nội tình bên trong. Nhưng sau khi thấy bọn họ lần lượt đi về phía cửa thành, nàng nói: “Bọn họ sắp vào rồi, nhưng chúng ta một là không tiện chạm mặt bọn họ, hai là đám người Kính Hoa chưa hiện thân, e rằng phải đợi thêm một lát.”
Kim Bất Hoán ngẩng đầu nhìn mưa to ngập trời, lại bỗng hỏi: “Phải đợi bao lâu?”
Hắn nói tiếp: “Bạch Đế Thành mở vì mưa Thanh Minh, nhỡ đâu đợi đến khi mưa tạnh thì sao?”
Mí mắt Chu Mãn giật thót.
Vương Thứ nói: “Vọng Đế bệ hạ dặn, đến trước mưa Thanh Minh, vậy nghĩa là, bỏ lỡ trận mưa này, Bạch Đế Thành sẽ đóng lại.”
Lòng Chu Mãn trầm xuống vài phần: “Phải vào trước khi mưa tạnh?”
Ba người nhìn nhau.
Cuối cùng, vẫn là Chu Mãn đưa ra quyết định: “Nếu vậy, không thể chậm trễ, e rằng chúng ta phải mạo hiểm thôi, làm theo kế hoạch đi.”
Sương mù trên mặt sông cuộn trào, linh khí quanh Bạch Đế Thành cũng theo đó mà xao động, quấy nhiễu linh thức của tu sĩ.
Kính Hoa phu nhân cùng tu sĩ năm bộ của Tam đại thế gia đang nấp trong rừng cây tối tăm bờ đông.
Trưởng lão Nhược Muội Đường của Vương thị ở Trung Châu là Viên Hư đang thống lĩnh hai đường còn lại, tóc hạc mặt già, một thân đạo bào, tay cầm phất trần; Tư hình Thính Phong Đài của Lục thị là Tiết Lệ, gương mặt trẻ tuổi, thần tình lạnh lùng cứng rắn, hông đeo đoản đao; Kỳ chủ Thu Thủy Kỳ của Tống thị là Ban Hương, tay cầm cờ Hạnh Hoàng, sinh ra với vẻ ngoài ngọt ngào, thoạt nhìn kiều tiếu đáng yêu, duy chỉ có đôi mắt thỉnh thoảng lướt qua tia tinh quang, khiến người ta nhận được sự bất phàm.
Cảnh giới ba người đều trên Hóa Thần kỳ, lúc này đang đứng sau lưng Kính Hoa phu nhân.
Kính Hoa phu nhân quan sát mặt nước gần Bạch Đế Thành, nói: “Bạch Đế Thành chỉ mở trong mưa Thanh Minh, Chu Mãn nhất định sẽ không bỏ lỡ, nhưng ba kẻ này giảo hoạt đa đoan, phải cẩn thận hơn. Lát nữa nghe hiệu lệnh của ta, hai kẻ kia hễ ló đầu ra giết cũng không sao, nhưng Chu Mãn kia phải bắt sống!”
Mọi người thấp giọng vâng dạ, ai nấy đều nghiêm trận chờ đợi.
Quả nhiên, không lâu sau, một chiếc lá khô từ xa theo dòng nước trôi về phía hạ lưu bên này. Một chiếc lá khô vốn chẳng có gì bắt mắt, nhưng khi nó đến gần tảng đá Diễm Dự Đôi giữa sông, lại không bị dòng nước đẩy va thẳng vào đó, mà lại né tránh cực kỳ khéo léo, lắc lư trôi về phía cồn cát nhỏ giữa sông nơi có Bạch Đế Thành.
Kính Hoa phu nhân thấy thế lập tức cười lạnh một tiếng: “Trò vặt, ra tay!”
***