Chương 47: Chốn đào nguyên
***
Núi Tiểu Dung nằm ở phía tây nam Đại Nghiệp.
Nơi này sát Vị Châu, nhưng hoàn toàn khác với vẻ phồn hoa mỹ lệ của Vị Châu, từ xưa đã là vùng đất nghèo khổ, chỉ vì đi tiếp xuống phía nam sẽ giáp Nam Man, các dị tộc Nam Man thường xuyên tới quấy nhiễu, Tiên đế từng phái quan binh đi bình loạn vài lần, tình hình mới dần ổn định.*
Sau khi sông Quảng Tế ở Vị Châu thông thuyền, người trên núi Tiểu Dung lại càng ít hơn. Đến năm Hi Ninh thứ hai mươi hai, thôn Sa Cừ trên núi Tiểu Dung tổng cộng chỉ còn khoảng trăm hộ, phần lớn đều là người tộc Vân Ô, quanh năm sống bằng nghề săn bắn trong núi.
Lúc này đang là tháng Hai, xuân đến sớm, bên bờ sông Quảng Tế đột nhiên đổ xuống một trận mưa rào.
Mấy phụ nhân đang đan lưới đánh cá hai bên bờ vừa cuộn lưới dưới đất chạy về nhà, vừa gọi những chiếc thuyền ngoài xa mau chóng cập bờ, một phụ nhân tốt bụng quấn khăn trên đầu đứng phía trước, gọi lớn về phía chiếc thuyền nhỏ hơi xa giữa sông: “Ngọc muội, lão Tiền, mau về đi!”
“Tới đây!”
Trên mặt sông truyền tới tiếng đáp.
Từ xa, một chiếc thuyền nhỏ chậm rãi chèo tới. Chiếc thuyền bé nhỏ đến mức có phần đáng yêu, ở đầu thuyền chỉ căng một cánh buồm gai đã ngả vàng, trong lúc nói chuyện, một cô nương trẻ tuổi mặc váy xanh thêu hoa đào chui ra khỏi khoang thuyền, mái tóc đen dày búi trên đầu, vài lọn tóc vụn dính mồ hôi áp lên trán, hai tay kéo lưới cá vào trong khoang.
Tiền Tiểu Ngọc chui vào khoang thuyền, lau nước mưa trên người, lão cha Tiền Hữu Phú thì quấn một chiếc khăn đỏ trên đầu, đang ngồi trong khoang kiểm tra xem cá trong thùng đã chạy mất mấy con, vừa ngẩng đầu ông đã thấy Tiền Tiểu Ngọc ôm một bọc đồ, mở hết lớp này tới lớp khác, cuối cùng lấy ra một cuốn sổ tay.
Cảnh tượng này chẳng hề xa lạ.
Hai năm nay, cứ đến ngày mưa, Tiền Tiểu Ngọc lại lôi cuốn sổ tay ấy ra, lật tới lật lui xem đi xem lại, lần khoa trương nhất là có một đêm hai cha con đang làm khách bên ngoài, nửa đường trời đổ mưa, Tiền Tiểu Ngọc lập tức quay đầu chạy về nhà, đến cả rượu mừng nhà người ta cũng chẳng uống, khiến Tiền Hữu Phú phải xin lỗi người ta suốt hồi lâu.
Nhưng ngoài mấy câu Tiền Tiểu Ngọc tự lẩm bẩm với mình, cuốn sổ tay ấy rõ ràng chẳng có gì được viết thêm.
Đúng là nhập ma rồi.
“Lại xem cuốn kinh rách của con đấy à?” Tiền Hữu Phú hừ một tiếng.
“Kinh rách gì chứ, đây là sách vận mệnh của hai cha con chúng ta.” Tiền Tiểu Ngọc nghiêng người ngồi xuống, hít sâu một hơi rồi giơ tay mở cuốn sổ.
Trên sổ, nét chữ vẫn dừng lại ở lần trò chuyện trước, không hề có thêm chữ mới.
Nàng chờ hồi lâu, kỳ tích vẫn không xuất hiện, trang giấy trắng bóc giống hệt sắc mặt nàng lúc này.
Tiền Hữu Phú liếc thấy vẻ thất vọng của con gái, bèn đùa: “Lợi hại vậy cơ à? Thế con nói xem, số hai cha con ta thế nào? Sau này còn phát tài được không?”
Tiền Tiểu Ngọc chẳng buồn để ý lời châm chọc của cha, trong lòng hơi buồn bực, rõ ràng trời đã mưa rồi vậy mà đối phương vẫn không viết chữ tới.
Không phải xảy ra chuyện gì rồi chứ?
Chẳng lẽ chết rồi?
Tiền Hữu Phú thấy nàng không trả lời, cúi người vén rèm nỉ chui ra ngoài chèo thuyền, Tiền Tiểu Ngọc ngồi trong khoang, siết chặt trang giấy, bên tai là tiếng mưa lất phất ngoài thuyền, đột nhiên hơi thất thần.
Tính từ ngày vượt ngục khỏi huyện Thiên Hà, đã hơn hai năm trôi qua.
Suốt hai năm, cho đến tận hôm nay, đôi lúc nửa đêm mộng tỉnh, Tiền Tiểu Ngọc vẫn toát mồ hôi lạnh mà giật mình tỉnh giấc.
Chỉ cần nghĩ tới chuyện xảy ra đêm hôm ấy, nàng vẫn còn sợ hãi.
Ngày đó rời huyện Thiên Hà, Giang Duẫn Trực thả cho hai cha con một con đường sống, Tiền Tiểu Ngọc cùng cha chèo thuyền về phía Vị Châu, thuyền đi được nửa đường, keo bong bóng cá dưới đáy thuyền đột nhiên bong ra, để lộ vết rạch, sau đó thuyền chìm.
Nước sông tháng Mười lạnh thấu xương, bốn phía lại không một bóng người, ngay lúc hai cha con đang giãy giụa tuyệt vọng, có lẽ mạng họ chưa tới lúc tuyệt, vừa hay có một chiếc thuyền đánh cá về nhà trong đêm đi ngang nơi thuyền chìm, nghe thấy tiếng kêu cứu nên vớt họ lên.
Ngư dân kia là người tộc Vân Ô, đang chuẩn bị trở về quê ở núi Tiểu Dung, Tiền Tiểu Ngọc bèn bịa ra một thân thế đáng thương, khiến đối phương động lòng trắc ẩn, đưa hai cha con về thôn Sa Cừ. Ban đầu chỉ nói ở nhờ vài ngày, đợi thương lành sẽ đi, nhưng đến khi khỏe lại, hai người mặt dày ở lì không chịu rời.
Từ đó ổn định cuộc sống.
Núi Tiểu Dung nằm phía nam Vị Châu, quan binh Đại Nghiệp lười quản chuyện ở đây, thôn Sa Cừ lại nằm sâu trong núi cao, hiếm khi có người bên ngoài bước vào, Tiền Tiểu Ngọc và Tiền Hữu Phú dựng tạm một căn lều, học người Vân Ô săn bắn đánh cá, miễn cưỡng cũng sống qua ngày.
Người trong thôn Sa Cừ không nhiều, dần dần dân bản địa cũng quen thân với hai cha con họ, Tiền Hữu Phú đã quen với cuộc sống yên ổn nơi này, nhưng Tiền Tiểu Ngọc lại thường xuyên lấy cuốn sổ tay ra trong những đêm mưa, muốn thử liên lạc thêm lần nữa với người ở mười năm sau.
Nàng có rất nhiều chuyện muốn biết.
Sau khi họ trốn khỏi huyện Thiên Hà, Đậu Mạc cuối cùng ra sao, Giang Nguyên và Tình Vân có bị liên lụy không, đáy chiếc thuyền nhỏ giúp họ rời đi bị người ta động tay động chân, có phải Triệu Chấn sai khiến không?
Còn chiếc hộp kia…
Chiếc hộp Đậu Mạc giấu trong nhà xí nhà nàng, sau lại bị nàng đào lên rồi chôn lại trong sân huyện nha, bên trong cất bí mật mà người nhà họ Đậu liều chết cũng muốn bảo vệ, cuối cùng có rơi vào tay Triệu Chấn hay không?
Mười năm sau, người ở đầu bên kia cuốn sổ tay có vì “tâm nguyện” của nàng mà trở lại huyện Thiên Hà không? Nếu trở về, bí mật bị chôn sâu kia rốt cuộc đã trống không, hay vẫn còn nguyên vẹn?
Nếu vẫn còn nguyên vẹn…
Hắn có cầm vật chứng ấy, đòi lại một lẽ công bằng cho nhà họ Đậu, cho hai cha con nàng, cho tất cả những người vô tội bị cuốn vào tai họa vô vọng này hay không?
Không thể biết được.
Dù sao thôn Sa Cừ cũng cách huyện Thiên Hà quá xa, cách Kinh thành lại càng xa ngàn dặm, huống hồ giữa họ còn cách nhau mười năm thời gian, chỉ có thông qua cuốn sổ tay ấy mới có thể nói chuyện.
Nhưng sao lại bặt vô âm tín thế này?
Tiền Tiểu Ngọc khó hiểu.
Theo lý mà nói, chỉ cần vào đêm mưa, nàng có thể nói chuyện với đối phương chừng một nén hương, nhưng từ khi đến thôn Sa Cừ, vì khí hậu núi Tiểu Dung khác biệt, đúng vào mùa đáng lẽ phải mưa thì hai năm liên tiếp lại gặp hạn hán, số lần trời mưa ít đến đáng thương, mỗi trận mưa đều chẳng khác nào ngày hội.
Lần trước trời mưa đã là ba tháng trước, khi ấy nàng đang tham gia hôn lễ, đến rượu mừng cũng chẳng uống đã vội vã chạy về nhà xem sổ tay, vậy mà vẫn công cốc.
Hôm nay trời mưa mà thư từ vẫn không thông, lần sau trời mưa, chẳng biết lại phải chờ tới khi nào.
Một chút buồn bã dâng lên trong lòng, thiếu nữ vén rèm thuyền, mưa nhỏ lất phất hòa trời đất thành một thể, ở nơi xa hơn trên sông Quảng Tế, mặt sông và đất trời nối thành một đường, đó là hướng Vị Châu.
Vị Châu…
Tiền Tiểu Ngọc hơi thất thần.
Vị Châu cách quận Đông Nguyên cũng không xa.
Nơi đó là quê hương của Đậu Mạc.
*
Dòng sông dài rộng mênh mang chia mặt đất làm hai.
Chỉ cách nhau một dòng nước, thời tiết núi Tiểu Dung thay đổi thất thường, quanh năm nóng bức, còn Vị Châu lại bốn mùa như xuân, khí hậu dễ chịu.
Nơi giáp với Vị Châu chính là cầu kênh quận Đông Nguyên.
Đang giữa ngày xuân, hai bên đê quận Đông Nguyên liễu rủ phất phơ, én xuân chao nghiêng, một cây cầu đá dài rộng vươn mình trên mặt nước, tựa một dải mây trắng nổi trên dòng nước xanh, có tiểu thương gánh hàng đi qua cầu, phụ nhân váy đỏ xách giỏ hoa hạnh rao bán, hương thơm theo gió bay khắp muôn nhà.
Xe ngựa dừng dưới rừng cây, một nam nhân trẻ tuổi tuấn mỹ từ trên xe bước xuống, áo xuân hòa vào cảnh sắc mùa xuân, càng khiến non nước xung quanh như tranh vẽ.
“Chủ quân, đây chính là cầu đá quận Đông Nguyên.” Trúc Chân buộc xe ngựa xong, nhìn cây cầu phía xa.
Hoắc Tầm nhìn theo ánh mắt hắn, dưới cầu sóng biếc dập dờn, thuyền bè xuôi ngược, trên cầu hoa rơi cỏ biếc, người qua kẻ lại, một vùng xuân sắc tràn đầy sức sống.
Chỉ trong mười năm ngắn ngủi, quận Đông Nguyên từ một vùng đất cằn cỗi quanh năm chịu lũ lụt đã biến thành đồng ruộng màu mỡ nhuộm sắc xuân như hôm nay, tất cả đều nhờ cây cầu đá này cùng vô số kênh mương lớn nhỏ.
Hoắc Tầm bước lên cầu đá.
Trên cầu xe ngựa nối nhau như rồng, người đi lại đông đúc, có người tựa lan can nhìn xa, có người xách đồ ăn nóng vừa đi vừa rao bán, xa hơn nữa, một đám người đang ồn ào tụ lại, ngồi quây thành một vòng ở cuối cầu.
Đến gần mới nhìn rõ, cuối cầu lại dựng một ngôi miếu nhỏ đơn sơ, trong miếu có một pho tượng đá, tạc một nam nhân trung niên mặc áo vải, mày mắt thanh tú, đứng trong từ đường, mỉm cười nhìn về phía dòng nước dưới cầu.
Pho tượng đá hẳn mới được tạc chưa lâu, được bảo quản rất tốt, thợ điêu khắc cũng vô cùng tỉ mỉ, tạc sống động như thật, trong đôi tay chắp trước ngực của tượng còn được cài không ít cành đào mới.
Khắp cây cầu là cảnh xuân náo nhiệt, hoa đỏ liễu xanh, chỉ riêng pho tượng đá này mang một màu xám trầm, thế nhưng giữa sắc xám ấy, nhờ một nhành đào trong tay tượng mà lại thêm phần sinh động.
Dưới chân tượng còn đặt rất nhiều hoa quả tươi, Trúc Chân hỏi một lão ông bên cạnh: “Lão trượng, pho tượng này tạc ai vậy?”
Trên tượng không khắc tên.
“Đây là ân nhân của quận Đông Nguyên, Đậu Văn Thư Đậu đại nhân!” Lão ông run rẩy đặt một cành liễu xuống chân tượng, chỉ về dòng nước dưới cầu, “Cây cầu đá này chính là do ngài ấy dẫn người xây nên!”
Đậu Văn Thư!
Trúc Chân bừng tỉnh.
Quay sang nhìn Hoắc Tầm bên cạnh, vẻ mặt hắn lại chẳng hề bất ngờ.
Đã gần nửa năm kể từ khi vụ án nhà họ Đậu ở quận Đông Nguyên được điều tra lại.
Vốn dĩ điều tra lại một vụ án cũ, lại là án từ mười năm trước, tuyệt đối không phải chuyện dễ dàng, nhất là khi khổ chủ nhà họ Đậu đã chẳng còn một ai trên đời.
Thế nhưng cuốn sổ Hoắc Tầm lấy ra lại khiến tất cả mọi người kinh ngạc.
Trong sổ ghi chép tỉ mỉ chứng cứ Quận thú quận Đông Nguyên Triệu Chấn qua lại tham ô nhận hối lộ với tri phủ các châu cùng nhiều quan lớn mười năm trước, phạm vi liên lụy rộng đến mức khiến người ta líu lưỡi.
Thiên tử nổi giận, hạ chỉ điều tra triệt để, thế là tất cả những người có liên quan đến án cũ lần lượt bị bắt, cả triều chấn động, lòng người hoang mang, Hoắc Tầm lại chẳng quan tâm những chuyện ấy, là một “quan ác” lấy việc tra tấn phạm nhân làm thú vui, trong thời gian ngắn Hình phòng của Binh Mã tư chật kín người, những cực hình mới nghĩ ra cũng có thêm cơ hội thử nghiệm, danh tiếng ham giết chóc của hắn lại càng đáng sợ hơn.
Triệu Chấn đã bị xử hình phạt tổ hải vào hai tháng trước.
Tổ hải vốn chỉ dùng với những kẻ tội ác tày trời, trong quá khứ phần lớn cũng chỉ áp dụng cho kẻ phản quốc làm loạn, thế nhưng Đậu Văn Thư bị Triệu Chấn vu oan hãm hại đến mức cả nhà tan nát, vốn lẽ ra phải là công thần lưu danh muôn đời, tàn hại trung lương, dối vua hại nước đến mức này, tội đáng muôn chết, Thiên tử đồng ý để Hình bộ dùng hình phạt ấy.
Ngày hành hình, Hoắc Tầm đích thân giám hình.
Triệu Chấn cùng đồng đảng quỳ trên pháp trường, trước mắt bao người, ban đầu còn lớn tiếng mắng Hoắc Tầm là gian thần, đến khi những lưỡi dao bạc trong tay đao phủ loạn xạ chém xuống, tiếng chửi mắng dần biến thành cầu xin, cầu xin lại hóa thành tiếng gào thảm thiết, cuối cùng trở thành một bãi thịt nát trên pháp trường, đỏ trắng lẫn lộn, chẳng còn phân biệt nổi ai với ai.
Những con chó dữ đã được buộc sẵn từ trước được thả ra, chỉ chốc lát đã liếm sạch bãi thịt nhão trên đài hành hình, rất nhiều người tới xem nôn ngay tại chỗ, chỉ có Hoắc Tầm ngồi giám hình vẫn bình tĩnh như thường, ngay cả mày cũng chẳng nhíu lấy một lần, càng khiến người ta lạnh gáy.
Triệu Chấn đã chết, oan khuất của nhà họ Đậu coi như được rửa sạch, Hoắc Tầm đích thân tới quận Đông Nguyên một chuyến, xử lý một số chuyện cũ liên quan đến vụ án nhà họ Đậu năm đó.
Dù sao Triệu Chấn tuy đã chết, những kẻ có liên quan với ông ta hiện giờ nhìn như liên tiếp sa lưới, nhưng cuốn sổ kia vẫn còn những chỗ ghi chép chưa đủ tường tận.
Trúc Chân nhìn bá tánh đang cầu phúc trước tượng đá, cảm thán: “Chẳng trách Triệu Chấn có thể dựa vào chiến tích ở quận Đông Nguyên mà diễu võ giương oai suốt bao năm, quả đúng là công lao lưu truyền ngàn thu, nơi này so với Kinh thành cũng chẳng kém là bao.”
Rồi lại nhìn pho tượng đá, thổn thức: “May mà cuối cùng cũng được giải oan.”
Trước khi vụ án cũ ở quận Đông Nguyên được điều tra lại, thanh danh Đậu Văn Thư tại quận Đông Nguyên không được tốt.
Chuyện năm ấy, bá tánh không biết nội tình, Triệu Chấn lấy lý do Đậu Văn Thư tham ô bạc công xây cầu để lừa gạt thiên hạ, ban đầu bá tánh không tin, nhưng nghe quá nhiều lần, dần dần cũng nửa tin nửa ngờ.
Lấy bạc triều đình cấp xây cầu để bỏ vào túi riêng, chính là động tới lợi ích của bá tánh, sao có thể dễ dàng bỏ qua?
Cũng có không ít người, nhất là những công nhân năm đó từng cùng xây cầu, không tin lời quan phủ, nếu Đậu Văn Thư thật sự tham ô bỏ túi riêng, tại sao cuối cùng nhà ông lại sa sút đến mức phải bán nhà bán cửa hàng, cuộc sống còn chẳng bằng bá tánh bình thường?
Chỉ là quan phủ kiểm soát lời ra tiếng vào về chuyện này vô cùng nghiêm ngặt, dù trong lòng có nghi ngờ cũng không ai dám công khai chống đối, thêm vào đó Đậu Văn Thư là “quan phạm tội”, sau khi ông cùng người nhà chết, thậm chí chẳng có lấy một ngôi mộ, một tấm bia, dù có lòng muốn tế bái cũng chẳng biết tìm đâu.
Cứ thế phí hoài bao nhiêu năm.
“Tên khốn Triệu Chấn vô liêm sỉ kia, ngay cả một nấm mồ cũng không để lại cho Đậu đại nhân, chúng ta chỉ có thể tạc một pho tượng đá. Đậu đại nhân à… giờ ngài cũng nhìn thấy rồi, quận Đông Nguyên đã có ngày tháng tốt đẹp, không còn phải chịu khổ vì thủy hoạn nữa.” Một phụ nhân lớn tuổi chắp hai tay, cúi lạy pho tượng.
Pho tượng im lặng không nói, chỉ mỉm cười nhìn về phía xa, nơi ấy, hai bên đê liễu xanh mơn mởn, ngày xuân vừa đúng lúc đâm chồi, một vùng đào hoa đỏ rực kiều diễm, muôn cành rực sắc, chính là những cây năm xưa lúc cầu đá vừa xây xong, ông từng cùng bá tánh trồng xuống.
Lại thêm một mùa xuân nữa, nhưng người trồng hoa đã không còn.
Hoắc Tầm xoay người bước xuống cầu đá, Trúc Chân vội vàng theo sau.
Bên bờ sông dưới cầu dựng rất nhiều quán trà, hai người tìm một quán ngồi xuống, vừa hay quán trà dựng dưới một cây đào, khi tiểu nhị mang trà lên, trong chén sứ trắng còn nổi một hai cánh đào đỏ thắm, khiến nước trà trong veo cũng ánh sắc hoa.
Trúc Chân nhìn thấy mới lạ, Hoắc Tầm lại khẽ nhíu mày, đặt chén trà trong tay xuống, dặn tiểu nhị đổi một chén trà xanh bình thường là được.
Tiểu nhị còn chưa kịp động, sau lưng đã truyền tới một giọng nói trêu chọc.
“Đây là ‘Đào Hoa Lưu Thủy’, chỉ quận Đông Nguyên mới có, nơi khác muốn tìm cũng không được.”
Hoắc Tầm ngẩng đầu.
Trước mặt là một nam nhân trẻ tuổi, mặt bôi phấn son trắng nõn, mặc trường bào gấm nền dệt kim thêu mẫu đơn lá sen bằng chỉ vàng, trong tay nghịch hai quả hồ đào ngọc tròn trịa, ăn mặc vô cùng phô trương, bên hông còn treo đến bốn năm quả cầu hương tơ vàng, vừa tới gần đã thấy hương nức mũi.
“Người khác muốn uống còn chẳng được, đúng là phí của trời.” Người nọ bĩu môi, lấy chén trà từ tay tiểu nhị, nói: “Đưa ta.”
Hắn ngồi xuống đối diện Hoắc Tầm, thong thả nâng chén trà lên, nhẹ nhàng thổi vài cái rồi mới chậm rãi nhấp một ngụm, hơi nheo mắt, tựa như đang thưởng trà, hồi lâu sau mới thở dài một hơi, ngâm nga:
“Xưa nay xưng tuyệt sắc, vốn tự gọi khuynh thành. Lá liễu sinh đầu mày, đào hoa nở má hồng.”
Hoắc Tầm lạnh lùng nhìn hắn làm bộ làm tịch, chẳng nói tiếng nào.
Người nọ ngâm thơ một hồi, thấy không ai để ý tới mình, dường như cũng cảm thấy hơi ngượng, bèn liếc mắt nhìn Hoắc Tầm, khẽ ho một tiếng, giọng điệu vẫn chẳng mấy cung kính, thậm chí còn có phần châm chọc: “Đúng là chuyện lạ, ngọn gió nào thổi ngài tới đây vậy, biểu đệ?”
Hoắc Tầm lạnh nhạt lên tiếng: “Hàn Vân Sơn.”
Người trước mặt chính là biểu huynh xa cách chẳng biết bao nhiêu đời của hắn, thiếu gia nhà phú thương số một Đại Nghiệp, Hàn Vân Sơn.
*
Tinh Nguyệt: Địa danh Nam Man được nhắc đến trong chương này mình có google tìm hiểu thì người Trung Quốc cổ đại coi Trung Nguyên là trung tâm văn minh (gọi là Hoa Hạ), còn các vùng xung quanh bị gọi chung là “Tứ di” gồm: Đông Di (phương Đông), Bắc Địch (phương Bắc), Tây Nhung (phương Tây) và Nam Man (phương Nam)
Như hình ảnh tham khảo từ wikipedia thì Nam Man thuộc phía Nam Trung Quốc hiện tại, không phải phần lãnh thổ Việt Nam.
Bộ truyện này tác giả đang viết, mình cũng vừa đọc vừa edit thôi nên nếu phát hiện có yếu tố liên quan đến chính trị không đúng đắn hoặc tác giả có ý không tôn trọng đất nước con người Việt Nam thì mình sẽ dừng.

Bà Nguyệt bão chương mà vẫn tra cứu chú giải rất cẩn thận luôn, dịch giả rất có tâm 🤗