Chương 141: Quán Nguyệt Sà (16)
***
Vừa nghe thấy giọng nói của Thanh Hà công chúa, sắc mặt Hải Triều biến đổi, nàng bất giác đưa mắt nhìn về phía Bùi Diệp.
Bùi Diệp lại tỏ ra ung dung điềm tĩnh, liếc nhìn nàng một cái, nói bằng giọng châm chọc: “Không phải gan to lắm sao? Giờ mới biết sợ à.”
Hải Triều nghẹn lời, tức tối đáp: “Ai nói ta sợ chứ.”
Miệng thì nói cứng như vậy, nhưng trong lòng nàng vẫn thon thót lo âu.
Thanh Hà công chúa hành xử tùy hứng chẳng theo phép tắc nào, Bùi Diệp và nàng ta lại cùng một giuộc, còn nàng chỉ là một “nô lệ” chẳng mấy quan trọng, khó bảo đảm hắn sẽ không hào phóng mà ném nàng cho công chúa.
Nàng còn đang mải suy tính, Thanh Hà công chúa đã vén rèm bước vào, tự nhiên như chốn không người.
Nhìn thấy Hải Triều, trên mặt nàng ta thoáng qua vẻ kinh ngạc cùng khó hiểu: “Tiểu Hải Triều, sao ngươi lại ở đây? Mà cũng tốt, ta đang định sai người đi tìm ngươi đây!”
“Nàng ấy đang làm việc cho ta.” Bùi Diệp lạnh nhạt giải thích.
Cuối cùng thì hắn cũng không nói nàng là nô lệ của hắn, Hải Triều cảm thấy được an ủi đôi chút.
Thanh Hà công chúa nhìn hắn, rồi lại nhìn Hải Triều, nghiêng đầu híp đôi mắt lại, nụ cười càng thêm ngọt ngào: “Nhưng hôm qua nó đã bán thân cho muội rồi.”
“Vậy sao?” Bùi Diệp thoáng lộ vẻ ngạc nhiên, “Công chúa có giấy tờ bán thân không?”
“Chúng ta đã thỏa thuận miệng rồi.” Thanh Hà công chúa nhìn về phía Hải Triều, “Hôm qua ngươi đồng ý dứt khoát lắm mà, sao giờ lại chạy sang chỗ Cảnh Minh ca ca rồi?”
“Là ta tìm nàng ấy.” Bùi Diệp nói, “Hôm qua công chúa đã đưa cho nàng ấy bao nhiêu ngọc? Ta sẽ thay nàng ấy trả lại gấp đôi.”
Công chúa dĩ nhiên chẳng đưa cho nàng viên ngọc nào, Bùi Diệp rõ ràng là biết tỏng còn cố tình hỏi, Hải Triều lại tò mò xem nàng ta sẽ trả lời thế nào.
Thế nhưng Thanh Hà công chúa nào phải người thường, trên mặt chẳng hề có chút thẹn thùng hay lúng túng, cứ thế nói một cách hiển nhiên: “Hôm qua muội đã giúp nó một việc lớn, nó muốn cảm tạ muội nên mới tình nguyện làm nô tỳ hầu hạ thôi.”
Hải Triều chưa từng thấy kẻ nào mặt dày đến thế, không nhịn được mà nói thẳng: “Ngươi bắt bạn của ta mà cũng tính là giúp đỡ ta sao?”
Thanh Hà công chúa tặc lưỡi một tiếng: “Lục nương tử gặp phải kẻ xấu, ta giữa đường thấy chuyện bất bình nên ra tay cứu giúp đấy chứ.”
Hải Triều bị cái thói đổi trắng thay đen này của nàng ta làm cho kinh ngạc, trợn tròn mắt không thốt nên lời.
Ánh mắt Bùi Diệp lướt qua gương mặt nàng, khóe môi treo nụ cười khó phát hiện, hắn nói với công chúa: “Đã là người của ta, thì món nợ ân tình này lý đáng phải do ta trả thay nàng ấy. Dưới trướng ta có mấy người cũng khá được việc, công chúa cứ tùy ý chọn lựa.”
Thanh Hà công chúa nhìn hắn một lúc, bỗng nhiên mỉm cười rạng rỡ: “Sao Cảnh Minh ca ca lại khách sáo với muội như thế? Chỉ là một con nô tỳ thôi mà, huynh muốn thì cứ nói một câu là được, chẳng lẽ muội lại đi tranh giành với huynh?”
Nàng ta quay sang nói với Hải Triều: “Tiểu Hải Triều, ngươi thay ta hầu hạ Cảnh Minh ca ca cho chu đáo, nhất định phải ngoan ngoãn nghe lời. Nếu không, cho dù Cảnh Minh ca ca độ lượng bỏ qua thì ta cũng sẽ không tha cho ngươi đâu.”
Không đợi Hải Triều mở miệng, Bùi Diệp đã nói: “Làm phiền công chúa bận tâm rồi, nàng ấy không nghe lời thì ta tự khắc sẽ dạy dỗ.”
Thanh Hà công chúa bèn gác chuyện này sang một bên, lại hỏi: “Bách hý tạp kỹ sắp bắt đầu rồi, Cảnh Minh ca ca có đi xem không?”
“Ta vẫn còn chút việc vặt chưa xử lý xong, công chúa cứ đi trước đi, ta sẽ tới sau.” Bùi Diệp đáp.
Công chúa lộ vẻ không vui: “Vậy Cảnh Minh ca ca nhớ phải nhanh lên đấy nhé, đừng để lỡ mất kịch hay.”
Bùi Diệp ôn tồn đáp: “Được.”
Thanh Hà công chúa bèn xoay người vén rèm bỏ đi.
Hải Triều nhìn tấm rèm trúc khẽ đung đưa, đoán chừng công chúa đã đi xa rồi mới quay sang nhìn Bùi Diệp.
Tâm trạng nàng có chút phức tạp.
Cái tên họ Bùi này tuy cũng đáng ghét, nhưng xem ra hắn và Thanh Hà công chúa không phải cùng một giuộc, ít nhất thì vừa rồi từ đầu đến cuối hắn cũng không gọi nàng là “nô tỳ”.
Cũng may hắn kiên quyết không để công chúa mang nàng đi, dù công chúa lúc nào cũng cười nói ngọt ngào, mở miệng là một tiếng “Tiểu Hải Triều”, nhưng Hải Triều biết rõ rơi vào tay nàng thì chắc chắn chẳng có chuyện gì tốt đẹp.
Bùi Diệp dường như có chút bất mãn, khẽ nhíu mày, ngón tay thon dài như bạch ngọc gõ nhẹ lên mặt bàn: “Đang nghĩ gì thế?”
Hải Triều đáp: “Ta đang nghĩ liệu công chúa có làm khó bạn của ta không?”
“Giờ mới biết lo à? Lúc ngươi xuống khoang đáy không nghĩ đến chuyện công chúa sẽ tìm bọn họ sao?”
Hải Triều mím môi, không đáp lời.
“Có phải ngươi nghĩ, nếu chết ở dưới khoang đáy thì coi như một lần chết vạn chuyện xong, còn nếu may mắn lên được tầng bảy thì không cần sợ công chúa trả thù nữa?” Bùi Diệp lười biếng ngước mắt lên nhìn nàng.
Hải Triều quả thực nghĩ như vậy, nhưng nàng không muốn thừa nhận.
“Ngươi nghĩ đơn giản quá rồi.” Bùi Diệp không chút lưu tình vạch trần, “Công chúa là kẻ có thù tất báo, cho dù ngươi có chết thì nàng ta cũng sẽ không buông tha cho bạn ngươi đâu.”
Hải Triều không kìm được mà rùng mình sợ hãi: “Vậy bạn ta hiện giờ có gặp nguy hiểm không?”
“Bản thân còn lo chưa xong mà đã lo cho người khác.” Bùi Diệp nói.
Nhìn đôi mắt to tròn đen láy xuất hiện lên vẻ lo âu sốt ruột, dường như còn có ý cầu cứu, hắn bỗng thấy trong lòng thoải mái hơn đôi chút: “Yên tâm đi, nàng ta còn kiêng dè ta, tạm thời sẽ không dám hành động thiếu suy nghĩ đâu.”
Hải Triều như trút được gánh nặng, cười lộ ra hai lúm đồng tiền sâu hoắm: “Vậy thì tốt quá.”
Bùi Diệp thấy dáng vẻ vô tư lự của nàng, lạnh giọng nói: “Ta bảo vệ ngươi được một lúc, chứ không bảo vệ được cả đời. Trừ phi cả đời này ngươi không lên bờ, bằng không sớm muộn gì cũng rơi vào tay nàng ta thôi.”
Còn một cái “trừ phi” nữa mà hắn không nói ra, đó là trừ phi từ nay về sau nàng sống dưới đôi cánh che chở của hắn.
Hắn hy vọng nàng có thể tự mình hiểu rõ điều này.
Thế nhưng cô nương này lại chẳng hề để tâm, coi lời hắn nói như gió thoảng bên tai, lại cúi đầu tiếp tục xem án văn.
Hắn lười so đo, xoay người tự múc cho mình một chén trà, uống một ngụm mới phát hiện nước trà đã đun quá lửa, đắng đến chát miệng.
Hắn miễn cưỡng nuốt xuống, vị đắng đọng lại ở cuống lưỡi hồi lâu không tan.
Đun ấm khác e là không kịp, hắn ngồi thừ ra một lúc, ước chừng nàng có chậm đến đâu cũng phải xem xong án văn rồi, bèn đứng dậy đi tới trước bàn nhìn thử. Nào ngờ lại thấy nàng đang dùng ngón tay dò từng chữ, đôi môi mấp máy như đang lẩm bẩm đọc.
Cả nửa ngày trời thế mà mới xem được hai dòng.
“Xem xong chưa?” Hắn cố ý hỏi.
Vành tai thiếu nữ lập tức đỏ bừng: “Nhiều chữ như vậy, làm sao mà nhanh thế được!”
Bùi Diệp khẽ hừ một tiếng: “Ngươi mà cứ xem kiểu này, e là đến tối mịt cũng chưa xong.”
Hắn thu lại cuộn án văn: “Thôi bỏ đi, để ta nói cho ngươi nghe. Theo lời hàng xóm, đứa bé diễn trò leo cột kia thường xuyên bị người khác bắt nạt, đặc biệt là khoảng thời gian trước khi xảy ra hỏa hoạn. Do cơ thể nó dần lớn lên, không còn nhẹ nhàng linh hoạt như lúc nhỏ, nên nhiều lần xảy ra sai sót khi biểu diễn, sau đó bị chủ gánh hát hoặc thầy dạy nghề đánh thừa sống thiếu chết.”
“Nhưng nó rồi cũng phải lớn lên chứ, chẳng lẽ cả đời cứ leo cột mãi sao?” Hải Triều nói.
“Thông thường, khi những đứa trẻ này lớn thêm một chút sẽ chuyển sang diễn các trò khác, ví dụ như nuốt kiếm phun lửa, tung hứng múa kiếm, biểu diễn ảo thuật, hoặc là phô diễn sức mạnh như bê đá nâng vạc. Nhưng những trò đó đều đã có người diễn, người cũ chưa lui thì chẳng có chỗ cho người mới. Hàng xóm nói những người kia thường chê đứa bé này ngu ngốc, không học được kỹ nghệ mới, còn chuyện là do nó thực sự không học được hay do người dạy giấu nghề thì không ai biết.”
Hải Triều cảm thấy đồng cảm sâu sắc, những năm tháng khó khăn nhất của nàng ít ra bên cạnh vẫn còn Lương Dạ, còn có dân làng chăm sóc, nhưng đứa bé leo cột kia lại chỉ có thể một mình giãy giụa cầu sinh.
“Tuy nhiên đứa bé kia cũng tìm được một lối thoát, đó là huấn luyện khỉ. Hai ba năm trước khi xảy ra chuyện, không biết nó nhặt được ở đâu một con khỉ bệnh, lén lút nuôi dưỡng, thế mà lại nuôi sống được. Nghe nói con khỉ đó rất thông minh, dường như có thể hiểu tiếng người, đặc biệt nghe lời đứa bé kia, nó biết nghề leo cột không thể làm lâu dài, nên đã lén giấu mọi người tập luyện trò khỉ.”
“Mấy ngày trước vụ hỏa hoạn, đúng dịp mừng thọ Lão Thái phi của Lương Vương phủ, Lương Vương mở tiệc chiêu đãi hoàng thân quốc thích và quần thần, cũng gọi đám nghệ nhân này đến diễn bách hý. Khi đứa bé kia đang diễn trò leo cột thì bị ngã xuống, Thái phi và Lương Vương vô cùng không vui. Nhưng ngay lúc đó, trên đỉnh cột bỗng xuất hiện một con khỉ mặc áo gấm đội mũ hoa, túm lấy cổ chân đứa bé ném ngược trở lại lên cột. Một người một khỉ cùng nhảy xuống, dâng hoa nhảy múa chúc thọ Thái phi, chọc cho Thái phi cười không ngớt. Khách khứa hôm đó ai nấy đều trầm trồ khen ngợi, gánh hát bách hý cũng nhận được rất nhiều tiền thưởng.”
Hải Triều thắc mắc: “Thái phi đã hài lòng, bọn họ lại còn được thưởng, chẳng phải là chuyện tốt sao?”
Bùi Diệp đáp: “Chẳng phải vậy. Đứa bé kia tự ý hành động, lại còn chơi trội làm náo động phủ Lương Vương, chỉ tổ chuốc lấy lòng ghen ghét đố kỵ mà thôi. Sau chuyện đó, quả nhiên nó lại bị đánh một trận thừa sống thiếu chết.”
Hải Triều vỡ lẽ: “Vậy nên ngươi cho rằng nó vì muốn báo thù mà phóng hỏa thiêu chết những người đó sao? Nhưng cho dù là vậy thì có liên quan gì đến con thuyền này chứ? Chẳng lẽ là oan hồn của những kẻ đã chết đang tác oai tác quái?”
“Chuyện này thì không rõ được.” Bùi Diệp nói, “Ta chỉ kể lại những chuyện mình biết cho ngươi nghe mà thôi.”
Hải Triều hỏi: “Vậy còn con khỉ kia thì sao? Sau đó nó đi đâu rồi?”
Bùi Diệp đáp: “Trong án văn không ai nhắc tới, có lẽ đã táng thân trong biển lửa, hoặc giả là đã mất tích cùng đứa bé kia rồi.”
Hải Triều gật gật đầu.
“Còn gì muốn hỏi nữa không?” Bùi Diệp hỏi.
“Tạm thời thì không còn nữa.”
Bùi Diệp bỗng nhiên ngước mắt lên, nhìn thẳng vào mắt Hải Triều, ánh mắt vốn đang hờ hững bỗng chốc trở nên sắc bén: “Khi nghe ta nhắc đến Lương Vương, ngươi dường như chẳng có phản ứng gì.”
Tim Hải Triều thót lên một cái, không biết mình đã lộ sơ hở ở đâu, càng không biết bản thân nên phản ứng thế nào, đành phải nói lấp liếm cho qua chuyện: “Ta chỉ là một thường dân, đâu có quen biết gì mấy vị quan lại quý tộc đó…”
“Kẻ khác ngươi không biết, nhưng Lương Vương thì chắc chắn phải biết.” Bùi Diệp nói, “Lương Vương khi ấy chính là Thiên tử đương triều.”
Hải Triều biết tình thế không ổn, chỉ đành bấm bụng nói: “Ta là dân vùng biên giới xa xôi, chỉ thấy nghe quen quen tai, chứ đâu có nghĩ tới chuyện đó…”
Bùi Diệp hiển nhiên không tin: “Ngươi rốt cuộc là ai? Ngày lên thuyền hôm đó, tại sao lại đứng dưới thuyền gọi ta?”
Hóa ra hôm đó hắn thực sự đã nhìn thấy!
Trong lòng Hải Triều hoảng loạn: “Ta… ta chỉ là nhận nhầm người thôi…”
“Ồ? Thế ngươi vốn tưởng ta là ai?”
“Một người bạn…”
Bùi Diệp nhìn sắc mặt nàng liền biết không chỉ đơn giản là bạn bè: “Là tình lang sao?”
Mặt Hải Triều thoáng chốc nóng bừng lên.
“Hắn ta rất giống ta sao?” Bùi Diệp lại hỏi.
Hải Triều không dám nhìn vào gương mặt hắn, sợ bị hắn nhìn thấu điều gì: “Cũng không giống lắm, do đứng xa quá, ta nhìn không rõ…”
Bùi Diệp không truy hỏi nữa, cầm lấy chén trà, rót cho nàng một chén nước trà.
Hải Triều không mảy may nghi ngờ, đúng lúc đang khát, bưng lên uống liền một hơi, ngụm trà đắng ngắt trôi xuống cổ họng, đắng đến mức nàng nhăn nhó mặt mày: “Trà này đắng quá, đắng quá đi mất!”
Bùi Diệp bưng chén trà của mình lên nhấp một ngụm, mặt không đổi sắc, khinh khỉnh nói: “Có chút đắng ấy mà cũng không chịu nổi.”
Dứt lời, hắn đặt chén trà xuống, đi về phía cửa.
Hải Triều hỏi: “Ngươi đi đâu đấy?”
“Xuống khoang đáy xem bách hý, ngươi đi cùng ta.” Bùi Diệp khựng lại, quay người nhìn nàng một cái, “Còn nữa, nhớ gọi ta là ‘Chủ nhân’.”
Hải Triều cảm thấy không phục, rõ ràng thuộc hạ gọi hắn là “Công tử”, sao đến lượt nàng thì lại phải gọi là “Chủ nhân” chứ.
Nhưng nghĩ đến chuyện Thanh Hà công chúa, coi như nàng nợ hắn một ân tình, đành ngậm ngùi đáp: “Biết rồi.”
Bùi Diệp vẫn không nhúc nhích, chỉ chằm chằm nhìn nàng.
Hải Triều hiểu ý hắn, đành phải đáp: “Biết rồi, thưa chủ nhân.”
Hai người kẻ trước người sau bước ra khỏi thư phòng, đi tới hành lang. Một tên tùy tùng tiến lên hành lễ, hai tay dâng một chiếc hộp dài: “Vật mà công tử sai thuộc hạ tìm kiếm đã tìm được rồi ạ.”
Bùi Diệp gật đầu, quay sang liếc nhìn Hải Triều: “Cầm lấy.”
Hải Triều chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì, đưa tay đón lấy chiếc hộp, chiếc hộp khá nặng tay, cũng chẳng biết bên trong chứa thứ gì.
Bùi Diệp dường như không kiên nhẫn nổi nữa: “Mở ra.”
Hải Triều mở hộp ra xem, bên trong thế mà lại là thanh đao của nàng!
Nô lệ lên sân khấu không được mang theo binh khí, đêm qua nàng đi xoay xở ngọc thạch cho Lục tỷ tỷ và Trình đại ca, bán thân mình rồi vẫn chưa đủ, đành phải cắn răng cầm cố luôn cả thanh đao này.
Không ngờ vật đã mất lại tìm về được, nàng không kìm được khẽ reo lên một tiếng, lấy thanh đao ra, áp lên má cọ cọ, rồi lại vuốt ve vỏ đao.
Nàng đeo đao trở lại đai lưng, lúc này mới nhớ ra phải cảm tạ Bùi Diệp: “Đa tạ công tử.”
Bùi Diệp chỉ im lặng nhìn nàng.
Hải Triều hiểu ý, đành bấm bụng nói: “Đa tạ chủ nhân.”
Lúc này Bùi Diệp mới hạ cố hừ lạnh một tiếng.
“Số ngọc chuộc đao, đợi khi nào có ta sẽ trả lại cho người.”
“Khỏi cần.” Bùi Diệp hất cằm, “Tay chân của ngươi thì cứ giữ lại cho mình đi.”
Hải Triều phồng má, cứ hễ nàng cảm thấy tên này cũng không đến nỗi tệ thì y như rằng hắn lại phun ra vài câu đáng ghét. Thật không biết hắn lớn lên kiểu gì nữa.
Nàng không hó hé gì nữa, lẳng lặng đi theo Bùi Diệp ra khỏi viện, băng qua hoa viên, đi cầu thang dành riêng cho khách quý tầng sáu xuống khoang đáy, lúc này mới biết bao sương của họ là những đình các treo lơ lửng giữa không trung. Những đình các này ẩn mình trong bóng tối, nối liền với nhau bằng cầu treo, từ đây có thể nhìn xuống sân khấu và khán đài, nhưng người bên dưới lại không nhìn thấy họ.
Hải Triều phát hiện đình các như vậy có tổng cộng bốn cái, trong đó hai cái có thể lờ mờ nhìn thấy bóng người chuyển động, còn một cái thì trống không.
“Vẫn còn khách chưa tới sao?”
Bùi Diệp đáp: “Đây cũng là chuyện ta muốn nói với ngươi. Tầng sáu tổng cộng có bốn vị khách, nhưng trong đó có một người mà đến tận hôm nay ta vẫn chưa từng gặp mặt.”
Dứt lời, một kẻ mặc áo tím đeo mặt nạ xuất hiện trên sân khấu: “Đa tạ chư vị quý khách đã lại đến ủng hộ. Trước khi vở kịch lớn hôm nay bắt đầu, xin cho phép tiểu nhân dâng lên một màn kịch nhỏ góp vui.”
Dứt lời, hắn giơ tay lên, vỗ tay ba cái “bốp bốp bốp”.
Trong dư âm tiếng vỗ tay, từ bóng tối nơi mép sân khấu vang lên tiếng lách cách.
Mọi người đều nhìn theo hướng âm thanh phát ra, thấy một đôi tay xương trắng bám lấy mép sân khấu, tiếp đó một cái đầu lâu nhô lên, trên hộp sọ vẫn còn lơ thơ túm tóc hoa râm.
Bộ xương kia chậm chạp vụng về leo lên đài, kẻ áo tím đeo mặt nạ bước tới, tung một cước đá văng bộ xương trở lại, dùng giọng điệu vừa khoa trương vừa hài hước nói: “Sao lại lòi đâu ra con quỷ già vô dụng thế này, về đi về đi, đổi đại mỹ nhân lên đây!”
Dứt lời, lại một bộ xương khác bò lên đài. Bộ xương này dáng dấp thon thả yểu điệu, trên đầu cài một đóa hoa đỏ, đứng trên sân khấu uốn éo làm duyên, trông y hệt dáng vẻ của một thiếu nữ trẻ tuổi.
Không ít khán giả bật cười, nhưng trong tiếng cười ấy ẩn chứa sự kinh hãi và căng thẳng rõ rệt.
Bộ xương kia rút từ trong miệng ra một vật, càng rút càng dài, hóa ra là một cây sào dài sáu bảy thước.
Nó đặt cây sào lên đỉnh đầu, lại từ trong miệng lôi ra từng khúc xương, những khúc xương rơi xuống đất, lăn lóc kêu lách cách, xương càng lúc càng nhiều, lăn qua lăn lại trên mặt đất, cuối cùng thế mà lại tự ghép thành một bộ hài cốt trẻ con.
Bộ hài cốt trẻ con kia lộn một vòng, hai chân đáp xuống vai bộ xương lớn, lập tức men theo cây sào thoăn thoắt leo lên đỉnh, khi thì đứng một chân, khi thì trồng cây chuối, lúc lại làm bộ đứng không vững ngã nhào xuống, rồi giữa tiếng thét kinh hãi của đám đông, nó xoay người giữa không trung, đáp lại vững vàng trên đỉnh sào.
Hai bộ xương một lớn một nhỏ này diễn trò leo cột một cách bài bản ra trò.
***