[21/12/2025] Tinh Nguyệt: Trước khi đọc chương này, mọi người hãy chịu khó quay lại đọc chương 149 (phần cuối) và chương 150 do đã có sự cập nhật thay đổi nội dung. Bởi vì bản raw trước đó ta mua là từ rất lâu rồi, tác giả có cập nhật sửa đổi nhưng ta chưa check lại và vẫn chuyển ngữ trên bản raw cũ, nếu mọi người đọc 2 chương 149, 150 sau ngày 21/12/2025 thì không cần đọc lại. Cảm ơn mn đã thông cảm.
Chương 151
***
Dấu chân hướng lên đỉnh núi sao? Một dự cảm chẳng lành thoáng chốc dâng lên trong lòng Chu Mãn, gương mặt nàng phủ một tầng sương lạnh. Nàng chỉ dừng lại trên con đường núi trong giây lát, rồi hóa thành một luồng sáng mỏng, lao vút về phía xa.
Vạn vật tĩnh mịch, chỉ có tiếng gió rít gào như dao cắt.
Tốc độ của nàng cực nhanh, chân không chạm đất, chỉ trong chớp mắt đã tới dưới chân vách núi dựng đứng.
Ngẩng đầu nhìn lên, mây đêm trôi tới vừa khéo che khuất Kiếm Các trên cao, không để lọt một tia sáng nào, khiến người ta không cách nào nhìn thấu tình hình bên trên. Phía dưới, con đường chim bay hiểm trở quanh co lại sạch sẽ tinh tươm, trên bậc thang phủ đầy tuyết dày chẳng thấy nửa dấu chân, hoàn toàn không giống như có người vừa đi qua.
Chẳng lẽ mình đa nghi quá nên nhìn nhầm, hay là Trương Nghi vốn dĩ không đi về hướng này? Dù sao dấu chân trên đường núi khi nãy cũng biến mất giữa đường.
Chu Mãn cau mày suy tư, đang do dự xem “đã đến rồi thì có nên lên xem thử hay không”.
Thế nhưng đúng lúc này, bên cạnh bỗng vang lên một giọng nói già nua: “Giờ này rồi, sao ngươi lại tới đây?”
Chu Mãn quay đầu: “Vọng Đế bệ hạ?”
Trong bóng tối phía bên trái, một lão giả áo xám chắp tay sau lưng, chậm rãi bước tới, thân hình ông vẫn còng xuống, tóc mai hai bên trắng xóa gần như hòa lẫn với tuyết núi xung quanh, nhưng khi thấy Chu Mãn lại cười: “Ngày kia là trận chung kết Xuân thí rồi, ngươi ngược lại chẳng vội chút nào, còn có tâm trí đi dạo.”
Chu Mãn giải thích: “Vãn bối thấy trong đêm có một bóng người đi về hướng này, cho nên…”
Nói đến đây nàng khựng lại, không biết có nên nói thật suy đoán của mình hay không.
Nhưng Vọng Đế nghe vậy thì trầm xuống, ngẩng đầu nhìn về phía đỉnh núi, thản nhiên nói: “Vậy xem ra, khách đã đến trước rồi.”
Chu Mãn rùng mình: “Khách?”
Vọng Đế duỗi bàn tay đang chắp sau lưng ra, đưa cho nàng một tấm thiệp trắng như tuyết, chỉ nói: “Hắn hẹn lão hủ lúc bình minh, gặp nhau trên đỉnh núi.”
Dù đã sớm dự liệu được vài phần, nhưng khi nhận lấy tấm thiệp kia xem xét, trái tim Chu Mãn vẫn không kìm được mà chìm thẳng xuống đáy vực.
Nét bút thanh thoát nhuận sắc, chữ viết bên trên đều đặn đẹp đẽ: Bình minh trên đỉnh Kiếm Các, xin cùng bệ hạ đánh cờ định thắng thua. Trương Nghi cúi chào.
Vài lời ngắn gọn, đơn giản vô cùng, thậm chí chẳng nhìn ra chút nguy hiểm hay địch ý nào, cứ như thể tùy tiện viết một tấm thiếp mời bạn cũ ra ngoài đạp thanh đánh cờ một cách bình thường vậy. Thế nhưng bốn chữ “Trương Nghi cúi chào” ở cuối, trong mắt những người biết cái tên này có ý nghĩa gì lại chẳng khác nào một lưỡi dao sắc bén đột ngột kề sát cổ họng, lưỡi bén lạnh lẽo dường như đã sắp đâm rách da thịt!
Sắc mặt Chu Mãn thay đổi: “Hắn muốn đánh cờ cùng bệ hạ?”
Vọng Đế gật đầu, cất bước đi lên con đường chim bay, dường như cảm thán: “Phải, chỉ là đánh cờ.”
Chu Mãn rảo bước theo sau, thần tình lại trở nên ngưng trọng: “Một bàn cờ chỉ có ba trăm sáu mươi mốt quân, với người phàm đương nhiên phải tính toán từng nước nhưng với tu sĩ, Kim Đan lợi hại một chút trở lên đã có thể dễ dàng tính ra mọi nước đi, đánh thế nào thì cũng chỉ là cờ hòa mà thôi. Hắn dựa vào đâu mà nói có thể cùng bệ hạ đánh cờ định thắng thua?”
Vọng Đế nói: “Khi hắn ở Doanh Châu mời đảo chủ Bồng Lai câu cá tại Hồi Đầu Tiêu, cũng chẳng ai ngờ bọn họ có thể phân định thắng thua.”
Chu Mãn hỏi: “Ý của ngài là?”
Vọng Đế hồi tưởng lại, bình thản nói: “Hắn dường như không giao chiến trực diện với người khác. Tại Doanh Châu, hẹn đảo chủ Bồng Lai ra khơi câu Lăng Ngư; tại Di Châu, cùng Quân hầu Diệp Linh Quan luận bàn âm luật. Đến khi phương Bắc, bái hội Nho môn Tề Châu, Tuân phu tử biết rõ mình tuyệt đối không phải đối thủ, bèn sớm phong ấn Kiếm ấn Tề Châu vào trong bia Tiên Thánh ở Ký Hạ Học Cung. Bia Tiên Thánh là do Khổng Thánh vạn thế sư biểu của Nho môn năm xưa để lại, tất cả mọi người đều cho rằng không có sai lầm. Nào ngờ, Trương Nghi đến Ký Hạ Học Cung, chỉ ngồi tĩnh tọa không ăn không uống trước bia ba ngày. Ba ngày sau, vào giờ Nhân Định, trên bia Tiên Thánh xuất hiện một vết nứt, ngay sau đó vỡ vụn sụp đổ…”
Chuyện Trương Nghi từ Doanh Châu một đường tiến về phía Tây liên tiếp đoạt lấy Kiếm ấn năm châu, tu sĩ trong thiên hạ đều biết, nhưng rốt cuộc hắn thắng bằng cách nào, tình hình lúc đó ra sao, người ngoài lại biết rất ít.
Nhất là chuyện bia Tiên Thánh của Nho môn vỡ nát, hẳn là họ tuyệt đối không muốn rêu rao ra ngoài.
Đây là lần đầu tiên Chu Mãn nghe được tường tận sự tình, trong lòng không khỏi ớn lạnh.
Đi đến giữa con đường chim bay, gió núi càng thêm lẫm liệt, giọng nói của Vọng Đế kẹp trong tiếng gió lộ ra vẻ thê lương già cỗi: “Còn về Trung Châu, trận chiến giữa kẻ này và Lục Quân Hầu bên ngoài thành Thần Đô, ngươi cũng đã biết rồi…”
Đó là lần ra tay duy nhất của Trương Nghi mà người đời được tận mắt chứng kiến kể từ khi hắn tiến về phía Tây.
Chỉ với một chiếc bát vỡ tầm thường đựng nửa bát nước sông vẩn đục, Bất Dạ Hầu Lục Thường đã bị vỡ nát đạo tâm, cảnh giới rớt xuống!
Chu Mãn càng nghĩ, lòng càng chìm xuống: “Vậy còn Nhật Liên Tông ở Lương Châu cách đây không lâu thì sao?”
Lần này Uất Trì Hoằng cũng đến Thục Châu tham gia Xuân thí, xem chừng trên người có mang thương tích.
Vọng Đế đáp: “Ta đã đặc biệt phái Sầm Huống đi hỏi, Uất Trì Hoằng chẳng đáp lời nào, chỉ nói duy nhất một câu.”
Chu Mãn hỏi: “Ông ta nói gì?”
Vọng Đế im lặng một lát rồi mới nói: “Ông ta bảo, có lẽ Trương Nghi mới là người đúng.”
Bước chân Chu Mãn khựng lại, nhìn về phía Vọng Đế.
Vọng Đế cũng dừng bước, quay đầu lại nhìn nàng.
Trên con đường chim bay bỗng nhiên tĩnh lặng đến vô cùng, ngay cả tiếng bước chân đạp trên tuyết khe khẽ trước đó cùng tiếng gió rít trong đêm cũng biến mất sạch sẽ. Chỉ còn lại ánh trăng lạnh lẽo đã ngả về tây, hắt bóng vách núi Kiếm Bích đè nặng lên người đến mức không thở nổi.
Vọng Đế từ từ bật cười: “Uất Trì Hoằng tu vi không thâm sâu, đạo tâm không vững, chuyện đó cũng đành thôi, nhưng Bất Dạ Hầu Lục Thường thì ta biết rõ, tu vi cảnh giới Đại Thừa đã là hiếm có trên đời, ngay cả khi Võ Hoàng còn tại vị cũng phải nể mặt ông ta vài phần. Năm xưa Võ Hoàng đánh cược với Thanh Đế, vì Kính Hoa phu nhân mà thua mất một tòa Lương Châu, vốn định phế bỏ tu vi của bà ta, nhưng Kính Hoa là muội muội của Lục Thường, Lục Thường ra mặt bảo vệ nên mới chỉ bị biếm đến Doanh Châu mà thôi. Đạo tâm kẻ này cực kỳ kiên cố, nếu ngay cả ông ta cũng không đỡ nổi nửa bát nước của Trương Nghi, thì lão hủ của hôm nay cũng chưa chắc đã thắng được ván cờ này.”
Chu Mãn nghe giọng ông bình thản, lại cảm thấy một nỗi bi thương dâng trào, đột nhiên không biết phải tiếp lời ra sao.
Nàng đương nhiên biết sự lợi hại của Trương Nghi, trong trận huyết chiến trên đỉnh Ngọc Hoàng, thứ mà Trương Nghi gọi ra để đối kháng với mũi tên thứ chín của Nghệ Thần Quyết, chính là sáu Kiếm ấn mà năm xưa hắn đi khắp sáu châu đoạt được!
Kết cục kiếp trước của Vọng Đế, thậm chí còn không bằng Lục Thường.
Lục Thường tuy đạo tâm vỡ nát, cuối cùng gần như điên dại, nhưng dẫu sao vẫn giữ được tính mạng, còn Vọng Đế sau khi thua mất Kiếm ấn, chưa đầy mười ngày sau đã tọa hóa trước Kiếm Các, binh giải đạo tiêu.
Thục Châu trước mất Kiếm ấn, sau mất Vọng Đế, không còn chỗ dựa.
Thế lực của thế gia Thần Đô nhân đà đó xuôi nam, cho dù các đại tông môn Thục Châu đứng đầu là bốn môn phái Thanh Thành, Nga Mi, Đỗ Thảo Đường, Tán Hoa Lâu có liên hợp lại kháng cự, rốt cuộc cũng không thể vãn hồi bại cục.
Sau khi Chu Mãn bị róc xương chạy trốn khỏi Thần Đô, toàn bộ Thục Châu đã hoàn toàn rơi vào tay thế gia khống chế.
Nghe nói đã xảy ra một trận đại chiến, đệ tử của tứ đại tông môn chết và bị thương gần hết.
Ví như Kim Bất Hoán, phải đến kiếp này Chu Mãn mới biết hắn lại là đệ tử của Đỗ Thảo Đường, bởi vì kiếp trước khi nàng biết đến cái tên này, trên đời đã sớm không còn Đỗ Thảo Đường nữa rồi.
Chu Mãn nghĩ ngợi, từ từ cúi đầu xuống.
Vọng Đế dường như biết tâm trạng nàng phức tạp nên cũng không nói thêm nữa, chỉ tiếp tục đi lên phía trên: “Làm hết sức mình, chớ hỏi thiên mệnh, chỉ cầu không thẹn với lòng là được.”
Mỗi bước đi vừa bằng phẳng vừa vững chãi.
Chu Mãn ngẩng đầu nhìn theo, một lát sau mới cất bước đuổi kịp.
Hai hàng dấu chân in rõ mồn một trên lớp tuyết đọng dọc theo đường núi, khúc khuỷu quanh co dẫn thẳng lên đỉnh.
Lúc này trời vẫn chưa sáng, trận tuyết lớn suốt mấy ngày qua đã sớm phủ kín đỉnh núi, càng lên cao càng lạnh, tuyết đọng không tan sớm đã đông kết thành băng, tựa như đội một chiếc mũ nỉ trắng toát. Trên mái cong của Kiếm Các ở ngay mặt chính, thậm chí ngay cả chiếc chuông vàng kia cũng bị băng tuyết bọc kín một tầng.
Nhưng điều khiến cả Vọng Đế và Chu Mãn không ngờ tới là khi bọn họ đặt chân lên bậc thềm cuối cùng, đến trước Kiếm Các, bốn bề lại vắng lặng như tờ, hoàn toàn chẳng thấy bóng dáng Trương Nghi đâu.
Chu Mãn nhìn quanh bốn phía, cảm thấy kinh ngạc: “Vừa rồi rõ ràng vãn bối nhìn thấy…”
Vọng Đế đang định mở miệng nói gì đó, song vành tai khẽ động, dường như nghe thấy thanh âm gì. Ông lập tức im bặt, ngoảnh đầu nhìn lại phía sau, trên mặt tức thì lộ ra biểu cảm khó mà diễn tả.
Chu Mãn lấy làm lạ, cũng quay đầu nhìn theo.
Chỉ trong thoáng chốc, người nàng chấn động, lẩm bẩm: “Sao có thể chứ?”
Trên con đường chim bay hiểm trở phía dưới mà họ vừa đi qua, một bóng người áo trắng mới đi được một nửa quãng đường. Gió núi thổi tung tấm áo cũ kỹ đã qua khâu vá, vương đầy những bông tuyết và bùn đất của người nọ, trên khuôn mặt bình thường kia là đôi mắt dường như dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng tĩnh lặng thâm sâu. Hắn đang dừng chân trước một vách núi, ngưng thần nhìn chăm chú vào mấy dòng chữ lưu lại trên đó.
Không phải Trương Nghi, thì còn là ai?
Nhưng Chu Mãn nhớ rất rõ, dấu chân của người này lúc trước đã biến mất trên đường núi, theo lý phải ở phía trước nàng và Vọng Đế mới đúng, sao giờ lại tụt lại phía sau bọn họ?
Vọng Đế lại chỉ cần liếc mắt là nhận ra nơi hắn đang dừng lại, chính là chỗ mà đám tiểu bối Chu Mãn, Vương Thứ, Kim Bất Hoán lúc trước hồ nháo tùy ý viết lên vài câu.
Khắp vách núi đầy rẫy kiếm tích của các bậc tiên hiền, chẳng lẽ chỉ có mấy câu này mới đáng để vị “Thiên nhân” trong truyền thuyết kia dừng chân sao?
Ông bất giác liếc nhìn Chu Mãn một cái, đăm chiêu suy nghĩ.
Nhưng mày Chu Mãn đang nhíu chặt, chằm chằm nhìn vào bóng người áo trắng bên dưới với tư thế như gặp đại địch, hoàn toàn không chú ý đến ánh mắt dò xét của ông.
Mãi cho đến khi luồng tia sáng đầu tiên từ phương Đông xuyên thủng màn đêm thâm trầm, phủ một lớp huy mang phơn phớt hồng lên Kiếm Các, hắt lên lớp tuyết đọng nơi góc mái hiên đỏ rực tựa như đang bốc cháy, thì vị khách đến muộn kia mới bước lên bậc thềm cuối cùng, hiện diện trọn vẹn trước mắt Vọng Đế và Chu Mãn.
Trương Nghi đứng lại, vẻ mặt đầy áy náy chắp tay: “Sơn đạo hiểm trở, tuyết lớn đường trơn, giữa đường tại hạ không cẩn thận trượt ngã một cái nên đến trễ, còn mong Vọng Đế bệ hạ lượng thứ.”
Chu Mãn nghe vậy, khóe mắt lập tức giật một cái.
Nàng nhớ lại những dấu chân hỗn loạn một hồi rồi đột nhiên biến mất trên đường khi nãy. Thiên nhân Trương Nghi, kẻ liên tiếp đoạt năm chiếc Kiếm ấn, đánh bại Quân hầu năm châu, thế mà lại đi bộ băng qua nền tuyết như một người phàm trần sao?
Vọng Đế cũng không khỏi suy tư, cười đáp lễ: “Tiên sinh hẹn vào lúc bình minh, hiện tại trời vừa hửng sáng, không sớm cũng không muộn. Có điều năm nay quả thực lạnh giá khác thường, bên ngoài gió lớn, nói chuyện bất tiện, kính mời tiên sinh dời bước vào trong Kiếm Các, tránh gió tuyết đã.”
Dứt lời bèn đưa tay mời khách, định đi trước dẫn đường.
Nào ngờ, Trương Nghi vẫn đứng nguyên tại chỗ, bước chân không hề suy chuyển: “Nhã ý của bệ hạ, tại hạ xin tâm lĩnh.”
Hắn ngẩng đầu nhìn về phía Kiếm Các, rõ ràng cách một cánh cửa đang khóa chặt, nhưng ánh mắt dường như đã xuyên thấu qua đó, nhìn thấy bức tượng cao lớn sừng sững bên trong, từ tốn nói: “Ba trăm năm trước, Võ Hoàng đúc sáu chiếc Kiếm ấn trấn giữ sáu châu, điều dẫn linh khí bốn phương, cân bằng Nam Bắc, san phẳng Đông Tây, mới khiến cho người phàm sống nơi cùng sơn ác thủy cũng có cơ hội tu luyện vấn đạo, xứng đáng là công cái thiên hạ. Tòa Kiếm Các này là do bà năm xưa dựng nên, bên trong thờ phụng tượng của bà. Ngày nay, tại hạ đến bái phỏng là muốn lấy đi Kiếm ấn người đúc năm xưa, lại sao dám đặt chân vào chốn bảo địa, mạo phạm trước tôn tượng?”
Trong lời nói, ý tứ kính trọng đối với Võ Hoàng lại cực kỳ sâu sắc.
Đừng nói là Chu Mãn, ngay cả Vọng Đế cũng sinh ra vài phần kinh ngạc, không khỏi dò xét nhìn hắn.
Nhưng Trương Nghi nói xong những lời này lại thu hồi tầm mắt, nhìn sang khoảng sân phủ đầy tuyết trắng trên đỉnh núi, chỉ nói: “Nếu Bệ hạ không chê, hãy cứ ở tại nơi đây, cùng tại hạ đàm đạo một ván đi.”
Vọng Đế tự nhiên đáp: “Ta chiều ý khách.”
Trương Nghi bèn vén vạt áo, ngồi xếp bằng ngay trước Kiếm Các, tháo năm Kiếm ấn đang đeo bên hông xuống, rồi cắm vào nền tuyết: một chiếc ở góc trái trên, một chiếc chính giữa, một chiếc góc phải trên, một chiếc góc phải dưới, và một chiếc nằm lệch hẳn về phía bên phải.
Năm Kiếm ấn trấn giữ năm châu, ở trong tay người này lại chẳng khác nào mấy thanh củi khô mà trẻ con tùy tay nhặt về.
Khi cắm vào tuyết thậm chí còn chẳng thẳng thớm, có hai chiếc lỏng lẻo, nhìn cứ như thể sắp đổ nghiêng đến nơi.
Chu Mãn thấy cảnh này, trong lòng không khỏi cảm thấy bất bình.
Thế nhưng Vọng Đế ngồi xếp bằng ở đối diện, nhìn xuống mặt đất lại dường như đã hiểu ra: “Tiên sinh muốn dùng bàn cờ này để phân thắng bại với lão hủ sao?”
Trương Nghi nói: “Tại hạ muốn Kiếm ấn sáu châu, thiếu một cái cũng không được. Nếu ván cờ hôm nay không thắng được bệ hạ, nguyện đem Kiếm ấn năm châu hoàn trả đầy đủ.”
Vọng Đế nói: “Ngược lại, nếu lão hủ không thể thắng, thì phải chắp tay dâng tặng Kiếm ấn Thục Châu?”
Trương Nghi gật đầu, chỉ nói: “Đến lượt ngài rồi.”
Vọng Đế trầm ngâm, chăm chú nhìn nền tuyết đã cắm năm chiếc Kiếm ấn trước mắt, suy tư hồi lâu, rốt cuộc thở dài một tiếng: “Cũng được.”
Dứt lời, bèn vươn tay phải về phía trước, bằng phẳng xòe lòng bàn tay ra.
Chu Mãn thầm kinh hãi, còn đang chưa hiểu chuyện gì.
Nhưng ngay khoảnh khắc sau lại nghe tiếng gió rít gào bên tai, cuồng phong bỗng chốc nổi lên!
Cánh cửa Kiếm Các đang đóng chặt sau lưng bị gió thổi tung ra một tiếng “Rầm”, đập mạnh vào vách tường, vang lên dữ dội.
Ánh sáng của thái dương mới mọc phương Đông vừa khéo xuyên qua cánh cửa, chiếu rọi lên ngón tay đang niêm hoa của bức tượng thờ bên trong!
Cả đỉnh Kiếm Các bỗng nhiên rung chuyển.
Chu Mãn hãi hùng quay đầu lại, thấy sau lưng bức tượng nọ, một thanh kiếm lớn màu tím thẫm như thể vừa được rút ra từ vỏ kiếm là tòa Kiếm Các này!
Phù văn màu vàng sẫm đúc kín thân kiếm, mỗi khi rút lên cao một tấc, phù văn lại sáng thêm một phần.
Đợi đến khi thanh kiếm này hoàn toàn hiện thân trên đỉnh núi, ánh sáng của nó đã gần như có thể so bì với mặt trời đằng Đông!
Giờ khắc này, tất cả tu sĩ cảnh giới Hóa Thần trở lên trên thế gian đều bị kinh động!
Trong nghị sự sảnh của Học cung, các vị phu tử dậy sớm đang thương nghị chi tiết về trận tranh Kiếm thủ ngày mai đồng loạt dừng lại, không chút do dự tung mình bay ra; tại Tị Phương Trần, Kính Hoa phu nhân vừa đi tới giữa vườn định ngắt một đóa mẫu đơn, đôi mắt chợt ngưng trọng, đột ngột quay đầu nhìn về hướng đỉnh Kiếm Các, trên Đảo Huyền Sơn ngay chính giữa Thần Đô, một bóng người đang đả tọa trong Quan Đạo Các cũng lặng lẽ mở mắt, bỗng nhiên vọt lên cao, đứng trên nóc nhà, phóng tầm mắt về phía quần sơn Thục Châu ở phương Bắc.
Thế nhưng trên đỉnh Kiếm Các, luồng kiếm quang đủ khiến người đời phải ngoái nhìn này chỉ kéo dài trong giây lát.
Ngay sau đó, thanh kiếm khổng lồ này bay từ trên cao xuống, nhưng lại tựa như vô hình vô chất, chẳng làm bắn lên nửa bông tuyết đọng, ánh sáng trên thêm kiếm cũng thu lại sạch sẽ như cá kình hút nước.
Khi rơi vào lòng bàn tay Vọng Đế, nó chỉ còn là một thanh kiếm nhỏ có hình dáng cổ xưa mộc mạc.
Trương Nghi tán thán: “Thục Châu xưa gọi là ‘Kiếm Xuyên’, sử sách từng ghi, kiếm tu thế gian phàm là kẻ đạt đến hóa cảnh không ai là không có liên hệ với nơi này. Trong Kiếm ấn sáu châu, Kiếm ấn Thục Châu là khí phách hùng tráng nhất. Hôm nay tận mắt chứng kiến, mới biết lời ấy không ngoa.”
Vọng Đế lại chẳng nói chẳng rằng, chỉ đem Kiếm ấn này cắm vào góc trái dưới.
Khoảnh khắc nó đứng vững trên mặt tuyết, năm chiếc Kiếm ấn còn lại cũng chấn động theo, thế mà lần lượt sáng bừng lên. Một luồng uy áp vô hình lập tức cuồn cuộn mênh mang, càn quét về khắp bốn phương tám hướng!
Trong thoáng chốc, Chu Mãn dường như nghe thấy tiếng rên rỉ của cả đất trời.
Luồng kiếm quang đầu tiên phát ra từ Kiếm ấn Thục Châu này, nối đến chính giữa, kế đó là góc phải trên, góc phải dưới, bên phải xa hơn, cuối cùng lại quay về góc trái dưới, không ngừng đan xen, thế mà tung hoành tạo thành mười chín đường kinh vĩ, dệt nên một bàn cờ.
Sáu châu một nước, non sông gấm vóc, thảy đều hiện lên trên bàn cờ này.
Từ những hòn đảo rải rác như sao sa trên biển Doanh Châu, đến Đại Nhạc nguy nga nơi tạo hóa hội tụ linh khí của Tề Châu, những ngọn núi thấp suối trong vắng dấu chân người ở Di Châu, vạn dặm đất đai màu mỡ thẳng cánh cò bay của Trung Châu, rồi đến sa mạc, hoang mạc và tuyết nguyên thê lương hùng vĩ của Lương Châu, cuối cùng là vùng bình nguyên nằm giữa quần sơn bao bọc của Thục Châu…
Tựa như một sa bàn, bao trọn vạn tượng nhân gian!
Chu Mãn nhìn thấy cảnh này, tâm thần không khỏi chấn động.
Trương Nghi cũng tĩnh lặng trong giây lát, nhưng rất nhanh phất tay áo, cuốn lên một vốc tuyết lẫn bùn đất trên mặt đất. Thế là tuyết hóa thành quân trắng, bùn biến thành quân đen, rải rác rơi xuống bàn cờ.
Hắn nói: “Bệ hạ là chủ, tại hạ là khách, mời bệ hạ cầm quân đen đi trước.”
Chu Mãn nghe vậy, nhìn xuống thế trận phân bố của quân đen trắng, các quân cờ xen kẽ, tại năm châu Doanh, Tề, Di, Trung, Lương quân trắng đều nhiều hơn quân đen, duy chỉ có Thục Châu là quân đen nhiều hơn quân trắng, không khỏi cau mày chất vấn: “Trên bàn cờ này, rõ ràng quân trắng nhiều hơn quân đen, các hạ lại muốn Vọng Đế bệ hạ cầm quân đen đi trước, chẳng phải thắng bại đã sớm định đoạt, còn cần gì phải đối kịch nữa?”
Trương Nghi quay đầu lại, nhìn Chu Mãn: “Ngươi cho rằng không công bằng?”
Chu Mãn lạnh lùng đáp: “Cục diện chênh lệch như vậy, sao có thể coi là công bằng?”
Trương Nghi lại từ từ bật cười: “Vậy ngươi cho rằng, trên đời này vốn dĩ có sự công bằng sao?”
Lông mày Chu Mãn trong nháy mắt nhíu chặt lại.
Đôi mắt dường như có thể nhìn thấu mọi bí mật thế gian của Trương Nghi chăm chú nhìn nàng, chỉ nói: “Nếu mọi chuyện trên đời đều công bằng, thì hôm nay sao ngươi lại đứng ở nơi này?”
Lời nói rõ ràng bình thản, nhưng lại mang theo một luồng khí lạnh lẽo, bất chợt thấm sâu vào tận xương tủy!
Đồng tử Chu Mãn co rút kịch liệt, đối mắt nhìn hắn: Nếu không phải mang trong mình Kiếm Cốt, nàng sẽ không bị Vương thị ở Thục trung tìm tới cửa ép buộc vay mượn, tự nhiên cũng sẽ không lấy điều kiện gia nhập Học cung Kiếm Môn để trao đổi với Vi Huyền. Vậy thì hôm nay, nàng cũng sẽ không đứng trên đỉnh Kiếm Các này.
Kẻ này, nắm rõ bí mật của nàng như lòng bàn tay!
Trong khoảnh khắc đó, trong lòng nàng trào dâng nỗi kiêng dè không sao kìm nén được, nhưng trong cõi u minh, sinh ra cùng với nỗi kiêng dè ấy còn có một giọng nói khác: Hắn nói chẳng lẽ không đúng sao? Thế gian lầy lội này, mỗi bước khó đi, nào có sự công bằng…
Vọng Đế đã rũ mắt nhìn bàn cờ này hồi lâu, lúc này mới thở dài một tiếng: “Về đi thôi.”
Chu Mãn lúc này mới hoàn hồn: “Vọng Đế bệ hạ?”
Vọng Đế tùy tay nhón lấy một viên bùn trên mặt đất, nói: “Lão hủ sinh ra ở Thục, lớn lên ở Thục, thành Đạo ở Thục. Hiện tại Thục Châu trong thù ngoài giặc, cũng giống như ván cờ này, sao có thể bỏ mặc không lo?”
Mắt ông rũ xuống, đôi mắt đã trải qua bao chìm nổi biến ảo của nhân gian nhìn thẳng vào góc trái bên dưới bàn cờ, khu vực của Thục Châu: Quần sơn vạn khe, bình nguyên bát ngát. Kim Đỉnh núi Nga Mi tắm mình trong nắng sớm, tiếng chuông núi Thanh Thành thắp lên khói hương, tùng bách rậm rạp ngoài thành Cẩm Quan, những ngọn núi dựng đứng như kích trước Kiếm Môn Quan!
Mỗi một ngọn núi, mỗi một dòng sông, mỗi tia nắng sớm đẫm sương, mỗi làn khói nhẹ bay lượn lờ…
Phàm là mọi sự trên mảnh đất Thục Châu này, không gì là không ở trong tim ông.
Chu Mãn chú ý tới ánh mắt của ông, đến lúc này mới hiểu được, không phải ông thực sự muốn đánh ván cờ bất công này, chỉ là vì non nước ngàn dặm Thục Châu này đã sớm khắc sâu trong tim lão giả, không thể bỏ, cũng không nỡ bỏ! Mà ván cờ Trương Nghi muốn đánh với ông, chính là vận mệnh tương lai của Thục Châu.
Vọng Đế khẽ mỉm cười, nhẹ nhàng đặt viên bùn kia vào vị trí Kiếm Môn Quan trên bàn cờ, nói với nàng: “Về đi, ngươi còn phải chuẩn bị cho Xuân thí. Nếu gặp đám người Sầm Huống ở bên dưới thì bảo với họ, không cần lên đây, cũng không cần để ai lên đây cả.”
Chu Mãn nghe vậy, đáy lòng chợt dâng lên một nỗi bi thương chua xót.
Cổ họng nàng nghẹn lại, yết hầu như bị thứ gì đó chặn đứng, không thốt nên lời.
Các vị phu tử Học cung cảm ứng được dị động ở Kiếm Các trước đó đang vội vã chạy tới đây.
Khi Chu Mãn đi xuống, quả nhiên gặp được bọn họ.
Sắc mặt Sầm phu tử ngưng trọng hiếm thấy, vừa gặp nàng liền hỏi: “Bên trên xảy ra chuyện gì?”
Chu Mãn khựng lại một lát mới chuyển lời của Vọng Đế lại.
Các vị phu tử lập tức nhíu mày, nhìn nhau đầy vẻ nghi ngờ và lo lắng.
Chu Mãn lại thẫn thờ như không hay biết, trong lòng ngổn ngang trăm mối tơ vò, chỉ cúi đầu tiếp tục đi về phía trước. Mãi cho đến khi dưới chân xuất hiện một bóng râm, nàng mới theo bản năng quay đầu nhìn lại.
Một vầng mặt trời vừa khéo treo trên mái cong vểnh cao của Kiếm Các.
Hóa ra là chiếc chuông vàng phủ tuyết kia ngược chiều ánh sáng, đổ xuống một bóng râm khổng lồ, vừa vặn bao trùm lấy cả người nàng bên trong.
“Võ Hoàng bệ hạ…”
***
Ko ngờ Trương Nghi đã tới khiêu chiến rồi cứ tưởng phải xem hết xuân thí mới đi lấy kiếm ấn cơ