Mộng hồi Tây Châu – Chương 265 (1)

Chương 265: Trường An – Phần 1

***

Ngày đó Trường An ấm áp lạ thường. Đang tiết tháng Chạp mà nước sông không đóng băng, cỏ cây đâm chồi nảy lộc tựa như tháng Giêng đầu xuân.

Chỉ còn vài ngày nữa là tới đại triều Tết Nguyên Đán. Sứ thần tám phương đến chầu, cống phẩm của các nơi cũng lần lượt tiến kinh. 

Thành Trường An xe ngựa nườm nượp, dân chúng khắp một trăm linh tám phường đều đang tất bật quét tước cửa nhà, sắm sửa Tết nhất, chuẩn bị cho ngày trừ tịch sắp tới.

Thế nhưng, nhà họ Lâm ở phía Nam khúc phường Thân Nhân lại im lìm hiu quạnh, lạc lõng hoàn toàn giữa bầu không khí náo nhiệt xung quanh. Bởi chủ nhân Lâm gia vừa mới tạ thế, giờ đây chỉ còn lại góa phụ họ Tôn cùng đứa con thơ và một lão bộc phụ làm việc tạp dịch.

Ngày hôm đó, sau mấy hồi chuông sớm, lão bộc phụ xách xô đẩy cửa ra, đang định đi gánh nước ở giếng trong phường thì chợt thấy dưới cây táo cách cửa không xa có một thiếu nữ đang đứng.

Thiếu nữ kia trông chừng mười sáu, mười bảy tuổi, mái tóc dài vấn thành búi đơn gọn gàng dứt khoát. Nàng mặc bộ hồ phục bằng bông, khoác bên ngoài chiếc áo nửa da cừu, chân đi ủng da đen, bên hông đeo một thanh đao dài vừa tầm. 

Nàng rất xinh đẹp, làn da màu mật ngọt dưới ánh triều dương bừng lên vẻ nhuận sáng, đôi mắt vô cùng trong trẻo. Nàng có vẻ rất sợ lạnh, cứ khoanh tay tựa vào gốc cây, đôi môi hơi nhợt nhạt, hơi thở ra trắng mờ như những làn khói nhẹ khiến gương mặt nàng lúc ẩn lúc hiện.

Sáng sớm mùa đông giá rét, sao lại có tiểu nương tử xinh đẹp nhường này xuất hiện trước cửa nhà? Lão bộc dụi dụi mắt, nghi ngờ không biết mình có nhìn lầm thành tinh quái phương nào hay không.

Đang lúc suy diễn, thiếu nữ đã bước về phía bà: “Ma ma, đây có phải chỗ ở của Lâm Hạc Niên không?”

Lão bộc phụ gật đầu, lòng càng thêm thắc mắc: “Lang quân đã qua đời nửa năm trước rồi, tiểu nương tử tìm người có chuyện gì sao?”

Thiếu nữ nghe vậy cũng không hề ngạc nhiên: “Vậy trong nhà còn có những ai?”

Thấy nàng vận trang phục người tập võ, lão bộc phụ sợ rằng lang quân ở ngoài gây ra rắc rối gì, nay trong nhà chỉ còn mẹ góa con côi, thật khó lòng ứng phó, thế nên bà cứ ngập ngừng không dám nói thật.

Giữa lúc lưỡng lự, bên trong viện vang lên giọng một nữ nhân: “Ai đang nói chuyện ngoài đó vậy?”

Chẳng đợi lão bộc phụ trả lời, một nữ nhân mặc đồ tang, đầu cài trâm bạc và hoa nhung trắng từ trong cửa bước ra. Người nọ tầm gần ba mươi, vai gầy eo thon, dáng vẻ tiều tụy. Có lẽ vì quá gầy nên đôi mắt nàng ta trông rất lớn, tròng mắt cũng to hơn người thường, nhìn qua lúc nào cũng như đang hoang mang lo sợ.

Vừa nhìn thấy người tới, nàng ta lập tức dừng bước, vẻ mặt trống rỗng, chân tay hơi luống cuống.

Hải Triều mở lời trước: “Tỷ là thê tử của Lâm Hạc Niên?”

Nữ nhân vén lại lọn tóc mai, gật đầu: “Chính là ta.”

Giọng nàng ta căng cứng, lắng tai nghe còn thấy hơi run rẩy, giống như rất sợ nàng, không biết có phải vì nhìn thấy thanh đao đeo bên hông nàng hay không.

“Tiểu nương tử đây họ Vọng phải không?” Nữ nhân ngập ngừng hỏi.

Hải Triều hơi ngạc nhiên: “Tỷ biết ta sẽ đến?”

Nữ nhân gật đầu: “Tiên phu có để lại thư cho tiểu nương tử, mời vào trong nhà nói chuyện.”

Dứt lời, nàng quay sang bảo lão bộc phụ: “Bà ra ngoài phường mua hai chiếc bánh hồ về đây.”

Hải Triều theo nữ nhân vào cửa. Đây là một căn nhà hợp viện nhỏ nhắn, tổng cộng chỉ có vài gian phòng, nhưng có thể sắm sửa được một cơ ngơi thế này ở nơi tấc đất tấc vàng như Trường An thì quả thật không dễ dàng gì.

Nữ nhân dẫn nàng đến phòng chính. Lúc đi ngang qua gian đông sương, Hải Triều thoáng thấy ổ khóa treo trên cửa thì bước chân khựng lại, đưa mắt nhìn về phía khung cửa sổ đang đóng chặt kia. Căn phòng đó rõ ràng đã lâu không có người ở, giấy dán cửa sổ đã vàng cũ, giòn mục, bị gió thổi rách một lỗ thủng.

“Ở đây…” Cổ họng Hải Triều khô khốc, lồng ngực như có thứ gì đó chực trào ra.

Nữ nhân nói: “Gian phòng này trước đây là cho Lương công tử thuê.”

Hải Triều cố nén lệ, nàng không muốn khóc trước mặt người lạ, nhất là người trước mắt lại là thê tử của Lâm Hạc Niên.

Chẳng rõ Lâm Hạc Niên đã nói gì với nàng ta, nhưng nữ nhân này rõ ràng biết thân phận của nàng, trong đôi mắt lớn của nàng ta hiện lên vẻ đồng cảm: “Tiểu nương tử có muốn vào trong xem chút không? Có điều đồ đạc của Lương công tử không còn ở đây nữa, phòng trống không rồi. Đợi qua Tết Nguyên Tiêu, chúng ta cũng sẽ rời khỏi Trường An, căn nhà này đã bán cho người khác rồi.”

Hải Triều lắc đầu: “Cứ bàn chuyện chính trước đã.”

Nữ nhân dẫn nàng vào phòng khách, dời chiếc sập vuông duy nhất trong nhà mời nàng ngồi, còn bản thân thì ngồi bệt xuống chiếu ở một bên.

Gian phòng này khá đơn sơ, được ngăn ra bằng một bức bình phong gỗ, cách một tấm bình phong chính là phòng ngủ của gia chủ. Phòng khách chỉ có cửa ra vào mà không có cửa sổ, mùa đông trên cửa treo một tấm thảm nỉ để chắn gió rét, hơi ấm và ánh sáng đều phụ thuộc vào chút tia sáng le lói hắt ra từ phòng trong.

Thấy nàng đánh mắt quan sát căn phòng, nữ nhân lộ vẻ lúng túng: “Hàn xá đơn sơ, xin tiểu nương tử lượng thứ.”

Căn nhà này đúng là quá tuềnh toàng, chẳng khá khẩm hơn túp lều nhỏ ven biển của Hải Triều là bao. Giấy dán trên bình phong đã lấm tấm vết mốc và lỗ thủng mà không được thay, trong phòng trống huếch trống hoác, trên tường có vài chỗ màu sắc rõ ràng nhạt hơn những chỗ khác, hẳn là nơi trước đây từng đặt tủ chè hay giá sách.

Lâm Hạc Niên tuy chỉ giữ chức Trực giảng ở Quốc Tử Giám, nhưng dù sao cũng là quan viên ở kinh thành, vậy mà giờ đây gia cảnh gần như bốn bức tường trống, đến sập ngồi cũng chỉ còn lại một chiếc. Đa phần là sau khi hắn ta chết, mẹ góa con côi khó lòng xoay xở, đành phải bán dần đồ đạc để qua ngày.

“Tiên phu…” Nữ nhân vừa mới mở lời, từ phía sau bức vách ngăn bỗng vang lên tiếng “oa” khóc nức nở, chắc là đứa trẻ nghe thấy giọng mẹ mình.

Trước khi đến đây, Hải Triều đã nghe ngóng qua, Lâm Hạc Niên có một đứa con trai chưa đầy tuổi, vì thế nàng cũng không lấy làm lạ.

Nữ nhân nghe thấy tiếng khóc thì như chim sợ cành cong, không tự chủ được mà cứng người, ngoái đầu nhìn chằm chằm vào tấm vách mỏng manh, gương mặt đầy hoảng hốt.

Hải Triều thấy nàng ta ngồi không yên, bèn nói: “Tỷ cứ vào xem đứa bé trước đi.”

Nữ nhân nói lời xin lỗi, rồi vội vàng đứng dậy đi vào nội thất. Chẳng bao lâu sau, nàng bế một bọc tã bằng vải xanh đi ra, đứa trẻ vẫn không ngừng khóc lóc. Nàng bế bọc tã đung đưa một hồi, cuối cùng đứa bé cũng nín khóc, nàng liền trải một tấm đệm nhỏ lên chiếu cỏ, cẩn thận đặt bọc tã xuống.

Hải Triều vô tình liếc nhìn một cái, đứa bé trông chưa đầy tuổi, đôi mắt khóc đến sưng múp, nhưng nhìn thoáng qua cũng có phần giống Lâm Hạc Niên, chỉ có điều gương mặt này thuần khiết ngây ngô, vô ưu vô lo, chẳng hề có chút tâm cơ tính toán nào như cha nó.

Thằng bé thò ra một đoạn cánh tay trắng ngần mập mạp như ngó sen từ trong bọc tã, nhét chiếc chuông bạc buộc bằng dây đỏ trên cổ tay vào miệng, mút lấy mút để phát ra tiếng “chùn chụt”, nữ nhân kiên nhẫn hết lần này đến lần khác gạt tay nó ra.

“Không biết tiểu nương tử kết giao với tiên phu như thế nào?” Nữ nhân nhìn về phía Hải Triều.

“Hắn ta không kể với tỷ sao?” Hải Triều hỏi ngược lại.

“Lang quân chỉ nói hai người gặp nhau ở Tây Châu, nhưng chàng chưa từng đi Tây Châu, hai năm qua lại chưa từng rời kinh…”

Hải Triều đáp: “Nếu hắn đã không nói cho tỷ biết, chắc hẳn là muốn tốt cho tỷ thôi.”

Nữ nhân mím môi, lại hỏi: “Lang quân nói còn để lại một số thứ quan trọng cho tiểu nương tử, dặn nàng đừng quên tới lấy, chắc hẳn tiểu nương tử biết chúng ở đâu chứ?”

“Thứ gì?” Hải Triều cảnh giác hẳn lên, “Hắn chưa từng nói.”

Nữ nhân hơi luống cuống, nhanh chóng liếc nhìn bức bình phong một cái: “Có lẽ lúc đó chàng bệnh đến hồ đồ rồi…”

“Lâm Hạc Niên chết như thế nào?” Hải Triều hỏi.

Câu hỏi này có phần vô lễ, nhưng nữ nhân không hề phật ý, chỉ có đôi mắt hiện lên nỗi u sầu thoang thoảng: “Khoảng nửa năm trước, tiên phu bỗng nhiên mắc chứng bệnh lạ, trong cổ họng mọc ra một cái nhọt độc.”

Vị trí nàng ta ra dấu chính là nơi Hải Triều đã hạ đao.

Nữ nhân nói tiếp: “Ta muốn đi tìm đại phu ở y quán, nhưng lang quân nhất quyết không cho tôi đi, nói rằng đây là báo ứng của chàng, sức người không thể chữa khỏi. Chưa đầy hai ngày sau đến lời cũng chẳng nói được nữa, nằm thoi thóp trên sập vài ngày, cuối cùng đến cả cháo loãng cũng không nuốt trôi… Ta vẫn tìm đại phu tới, tìm tới hai người nhưng đều nói không thể chữa được…”

Nàng đưa tay lên quệt đi giọt nước mắt rỉ ra, đứa trẻ lại tưởng mẹ đang che mặt chơi đùa với mình, cứ thế “ha hả” cười mãi không thôi.

Nữ nhân nghẹn ngào nói: “Lúc còn nói được, lang quân bảo mấy tháng sau sẽ có người từ Lĩnh Nam đến tìm. Chàng dặn ta ôi ở đây đợi nương tư, đợi đến khi nương tử hồi hương. Chàng ấy bảo ta nói với tiểu nương tử rằng, những gì nương tử muốn hỏi đều viết cả trong thư rồi.”

Nàng ta vừa nói vừa đứng dậy dời mấy chiếc bàn, lật tấm chiếu cỏ trải sàn lên, lấy ra một phong thư từ bên dưới giao cho Hải Triều.

Hải Triều nhận lấy lá thư, mấy tờ giấy manh mỏng manh mà ngỡ như nặng nghìn cân, cổ tay nàng không kìm được khẽ run rẩy.

Nàng đọc từng dòng một, cảm giác như có một bàn tay lạnh lẽo đang từng chút một xé toạc lồng ngực mình, gió lạnh lùa vào, buốt thấu tâm can.

Trong thư, Lâm Hạc Niên thẳng thắn thú nhận, chính hắn ta là kẻ đã phản bội Lương Dạ.

Hắn vốn là Trực giảng ở Quốc Tử Giám, ngay từ khi Lương Dạ nhập học ba năm trước, hắn ta đã biết thiếu niên này là bậc thiên tài kinh nhân, hiếm có hơn cả là phẩm cách siêu phàm thoát tục, phong thái tuấn lãng thanh tao, nên đã nảy sinh ý định kết giao.

Biết Lương Dạ xuất thân bần hàn, phải tá túc trong chùa, hắn ta muốn cho chàng thuê gian nhà trống với giá rẻ, nhưng Lương Dạ năm lần bảy lượt từ chối. Mãi đến hai năm sau, khi hai người đã đạt đến mức tâm đầu ý hợp, chàng mới chấp nhận lòng tốt của hắn.

Về sau, Lương Dạ giành vị trí đứng đầu trong kỳ thi khoa cử, rồi lại từ chối hôn sự với thiên kim của Lư Thị trung, cuối cùng chỉ có thể làm một văn lại ở Bộ Hình. Hắn ta càng thêm xót xa cho một viên ngọc quý bị vùi trong bụi bặm, vận mệnh lận đận, nên thường xuyên quan tâm chăm sóc nhiều hơn.

Thế nhưng một ngày nọ, Lương Dạ đột nhiên đề nghị chuyển về chùa, hắn ta gặng hỏi lý do nhưng Lương Dạ nhất quyết không tiết lộ nửa lời.

Hắn ta suy nghĩ mãi không ra, nhân lúc Lương Dạ ra ngoài bèn lén lục soát căn phòng và tìm thấy những thứ Lương Dạ giấu dưới gầm giường.

Đó là bản sao chép các hồ sơ vụ án mà Lương Dạ đã thực hiện, một vụ án cũ từ nhiều năm trước. 

Vào tháng Chạp năm đó, trong thành và các vùng kinh kỳ liên tiếp có lưu dân, ăn mày và trẻ con nhà tá điền mất tích. Cuối cùng, người ta tìm thấy bím tóc và giày nhỏ của mấy đứa trẻ mất tích trong một đoàn ảo thuật từ ngoại bang tới. Ngay sau đó, dưới một giếng cạn nơi họ trú ngụ, xác của một đứa trẻ đã được tìm thấy. Đứa bé bị bọc trong vải đỏ, bị khoét mắt, cắt lưỡi, xẻo tai, trạng chết vô cùng thê thảm. 

Những kẻ đó khai rằng chúng dùng trò ảo thuật để che mắt thiên hạ, đi khắp phố cùng ngõ hẻm để bắt cóc trẻ con, nhưng khi hỏi tại sao lại hành hạ giết hại lũ trẻ như vậy chúng lại không nói được lý do rõ ràng. 

Từ đó nảy sinh nhiều lời đồn đại, kẻ nói chúng thờ phụng tà ma, người bảo chúng làm trẻ con thành rối sống, xôn xao một thời.

Dù sao đi nữa, vụ án đó chứng cứ rành rành, phạm nhân cũng đã bị xử tử thị chúng, sự việc từ lâu đã là ván đóng thuyền.

Lâm Hạc Niên không hiểu tại sao Lương Dạ lại lật lại vụ án cũ này, nên càng lục soát kỹ hơn. Cuối cùng, hắn ta phát hiện ra một cuộn giấy giấu trong thẻ trúc, trên đó là những điểm nghi vấn mà Lương Dạ liệt kê, cùng với lời khai và manh mối hắn thu thập được suốt nhiều tháng qua, những manh mối này lại âm thầm chỉ hướng về Tiết Vinh, quán chủ của Long Hưng Quán.

Tiết Vinh có qua lại với nhiều quyền quý trong kinh thành, Thị trung Lư Đạo Nhân là một trong số đó. Qua tiến cử của Lư Đạo Nhân, đạo sĩ này thậm chí còn được vào cung giảng đạo kinh cho Hoàng đế.

Ngoài vụ án trẻ em mất tích năm xưa, bên trong còn có hằng hà sa số bằng chứng về việc Lư Đạo Nhân mua quan bán tước, chiếm đoạt ruộng đất, ép chết dân lành.

Đến đây, Lâm Hạc Niên đã hiểu rõ, Lương Dạ vội vã rời đi vì đã quyết định tố cáo tội ác của Lư Đạo Nhân, không muốn làm liên lụy đến gia đình hắn.

Nhưng hắn biết rõ Lương Dạ chỉ như “châu chấu đá xe”, gia đình hắn sao có thể không bị kéo vào? Ngay cả khi giữ được tính mạng, con đường làm quan chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng, vả lại thê tử hắn đang mang thai, nếu có bất trắc, e rằng cả nhà gặp họa.

Hắn trằn trọc nhiều ngày, cuối cùng quyết định bán đứng bằng hữu, ra tay trước để mật báo với Lư Thị trung.

Ngày hôm sau, một nhóm người xông vào bắt ép Lương Dạ đi, lại lục soát toàn bộ ngôi nhà, cuộn sạch tất thảy đồ đạc, vật dụng của Lương Dạ. Những người đó đến bắt người vào lúc đêm hôm khuya khoắt, hành sự giống như quan sai nhưng chẳng rõ là người của nha môn nào.

Kể từ đó, Lương Dạ bặt vô âm tín. Lâm Hạc Niên cũng không dám dò hỏi, chỉ có thể sống trong thon thót lo âu, mong sao chuyện này kết thúc tại đây.

Tuy nhiên, dù hắn đã mật báo cho Lư Thị trung và cố hết sức đứng ngoài cuộc, cuối cùng vẫn “khéo quá hóa vụng”, tự rước họa vào thân.

Vài ngày trước khi vào Tây Châu, hắn nhận thấy có người âm thầm theo dõi mình. Hắn may mắn chạy vào nơi phố xá náo nhiệt mới tạm thoát nạn, nhưng biết rõ sớm muộn gì mình cũng bị giết người diệt khẩu. Đang lúc sống trong sợ hãi tột cùng, hắn lại lạc vào Tây Châu trong một giấc chiêm bao.

Thấy Lương Dạ ở Tây Châu, thấy cổ chân chàng có vết thương, sau gáy có máu, hắn nghi ngờ chàng đã bị tra tấn dã man trong ngục, nghi ngờ chàng đã chết. Dù sống hay chết, một khi hắn nhớ lại chuyện cũ, chắc chắn sẽ thề chết không thôi với hắn. Vì thế, hắn ta lại chọn cách ra tay trước để nhổ cỏ tận gốc.

Hải Triều khó nhọc đọc từng chữ trong thư, cảm giác như chính mình đang lội trong bùn lầy dơ bẩn.

Lương Dạ cẩn trọng và thông minh đến thế, nếu không có bảy tám phần nắm chắc, hắn tuyệt đối sẽ không khinh suất hành động, vậy mà, chỉ vì sự nhu nhược ích kỷ hèn nhát của kẻ kia mà hắn phải uổng mạng.

Trong thư, Lâm Hạc Niên viết: “Góa phụ con thơ vô tội, khẩn cầu đừng làm hại tính mạng họ”. Hải Triều chỉ cảm thấy nực cười vô cùng, lúc A Dạ của nàng bị bằng hữu phản bội, chịu đựng oan ức, bị tra tấn đánh đập dã man, chàng biết cầu cứu ai đây?

Nàng nhìn vào đôi mắt đứa trẻ, càng nhìn càng thấy đó chính là đôi mắt của Lâm Hạc Niên, ngay cả gương mặt ngây thơ non nớt kia cũng dần chồng khít lên khuôn mặt của kẻ phản bội đáng ghét ấy. Loại người như thế, dựa vào đâu mà được để lại huyết mạch của mình? Dựa vào đâu mà vẫn còn người nhớ thương?

Trong vô thức, tay nàng đã siết chặt lấy thanh đao bên hông.

Nữ nhân rõ ràng đã nhận ra cử động của nàng, nàng ta vội vàng bế xốc đứa trẻ lên, cúi rạp người nói: “Tiên phu từng nói, vì công danh lợi lộc mà chàng ấy đã hại Lương lang quân, chết trăm lần cũng không hết tội… Tôi tuy không rõ sự tình ra sao, nhưng tiên phu vốn không phải kẻ say mê công danh, chắc chắn là do ta mang thai, ngày ngày thúc ép chàng tiến thân… Chàng chìm nổi chốn quan trường thấp kém đã nhiều năm, mãi đến lúc xấp xỉ tuổi tứ tuần mới may mắn được quý nhân để mắt, mắt thấy tiền đồ sắp khởi sắc, nên mới vì một ý niệm sai lầm mà phạm phải đại trọng tội. Nếu tiểu nương tử muốn báo thù, cứ việc giết ta là được, chỉ xin thương tình đứa trẻ còn non dại chưa biết sự đời mà tha cho nó một mạng…”

Đứa bé dường như cũng cảm nhận được nỗi sợ hãi của mẫu thân, nó mếu máo rồi “òa” lên một tiếng, khóc thét nức nở.

Hải Triều như bừng tỉnh khỏi một cơn ác mộng. 

Nàng cầm đao đứng dậy, thu kỹ lá thư, liếc nhìn đứa trẻ đang khóc lóc vung vẩy cánh tay trên mặt đất, rồi hỏi nữ nhân: “Tỷ nói Lâm Hạc Niên được quý nhân để mắt, kẻ đó có phải là Lư Thị trung không?”

Ánh mắt nữ nhân xao động: “Chuyện quan trường chàng ấy chưa bao giờ nói nhiều với ta, ta chỉ biết quý nhân kia rất coi trọng nét chữ của chàng.”

Hải Triều không hỏi thêm gì nữa, vén tấm thảm nỉ bước lớn ra ngoài.

Đợi khi nàng đã đi xa, từ sau bức bình phong một nam nhân bước ra, nữ nhân lập tức ôm chặt lấy con: “Ta đã làm theo đúng lời các người dặn, xin hãy thả mẹ góa con côi chúng ta về quê…”

Nam nhân lạnh lùng nói: “Chủ nhân nhà ta vốn khoan hậu, đợi tìm thấy thứ đó, tự khắc sẽ để các người rời kinh.”

Nữ nhân khóc nấc lên: “Thứ các người nói ta thật sự không biết. Tất cả sách vở, thư họa chàng ấy để lại đều đã giao hết cho các người rồi. Còn cuốn sổ tay đó, ta chưa từng thấy bao giờ, dù có ép chết cũng chẳng lấy ra được…”

Hắn ta vẫn dửng dưng: “Cứ yên ổn mà ở lại đây, chủ nhân tự có định đoạt.” Nói đoạn, hắn sải bước ra cửa.

Vừa vén thảm nỉ, hắn lại quay đầu dặn dò: “Có lẽ nàng ta sẽ còn quay lại tìm, đừng có tự đắc ý mà xen vào chuyện bao đồng, nếu còn có lần sau…” Hắn liếc nhìn đứa bé trong lòng nàng ta, rồi dời tầm mắt đi chỗ khác: “Ta cũng không giúp nổi mẹ con ngươi đâu.”

Nữ nhân ghì chặt lấy con, ngồi quỵ dưới đất, nước mắt tuôn rơi trong cơn run rẩy không ngừng.

Ra khỏi phường Thân Nhân, đi về phía Đông qua thêm hai phường nữa chính là nơi cất giấu đồ mà Lâm Hạc Niên đã nói trước khi chết. Hải Triều đứng bên ngoài tường phường chần chừ một lát, rồi xoay người đi về phía Tây.

Càng đi về phía Tây, người ngựa trên đường càng lúc càng đông. Đó đều là những người tranh thủ đi chợ sớm ở chợ Tây, có thường dân áo vải trâm gai, cũng có nô tỳ của các đại gia tộc mình mặc gấm vóc lụa là.

Hải Triều thong thả bước đi theo dòng người, băng qua cổng phường Tây Thị, vào một tiệm ăn ven đường gọi một bát mì sợi. Nàng ngồi một bên chậm rãi ăn xong, sau đó tiếp tục xuyên qua các con phố ngõ nhỏ, đi tới một tiệm sách cũ treo tấm biển chữ “Trình”.

Tiệm sách hơi vắng vẻ, trong quán chỉ có hai người trông như thư sinh mặc áo trắng đang bám lấy gã sai vặt để mặc cả. 

Gã sai vặt nọ bị làm phiền đến phát ngán nhưng lại không tiện đắc tội khách nhân, vừa thấy Hải Triều thì như gặp được cứu tinh, niềm nở cười nói: “Tiểu nương tử muốn tìm sách sao? Đừng nhìn tiệm chúng tôi nhỏ, tiệm sách họ Trình này có mặt khắp nam bắc kinh kỳ, bất luận là kinh sử hay truyền kỳ, chỉ cần tiểu nương tử đọc được tên sách, chúng tôi đều có thể tìm về cho cô.”

Hải Triều nói: “Ở đây có cuốn Phật Thuyết A Di Đà Kinh không?”

Gã sai vặt gật đầu lia lịa: “Phật kinh đều để ở trên lầu, mời tiểu nương tử đi theo tiểu nhân.”

Hải Triều theo gã lên lầu. Gã sai vặt trèo lên thang gỗ, từ trên kệ cao lấy xuống một chiếc hộp gỗ dài, hạ thấp giọng nói: “Đây là thứ mà thiếu đông gia trước khi đi Đông Đô đã đặc biệt dặn dò.”

Nói đoạn, gã mở hộp, lấy ra cuốn kinh văn, tháo trục đầu ra, từ bên trong rút ra một vật được bọc trong lớp vải lụa: “Đây chính là thứ tiểu nương tử cần. Thời gian gấp gáp, miễn cưỡng chế tạo xong, có chút thô lậu, không biết có dùng được không?”

Hải Triều mở lớp vải lụa liếc nhìn một cái: “Thời gian ngắn như vậy mà làm được thế này đã là tốt lắm rồi.”

Nói xong, nàng bọc lại như cũ, cẩn thận thu cất, cảm ơn gã sai vặt rồi mang theo hộp gỗ rời khỏi tiệm sách họ Trình.

Lúc xuống lầu, trong tiệm lại có thêm một người trung niên mặc áo xanh. Ông ta đang đứng trước giá sách, chăm chú nhìn những chiếc thẻ treo trên các cuộn bản thảo, lúc Hải Triều đi ngang qua, ông ta liếc nhìn chiếc hộp trong tay nàng một cái.

Đợi khi nàng ra khỏi cửa tiệm, người trung niên nọ vờ như vô tình hỏi gã sai vặt: “Tiểu nương tử vừa rồi mua sách gì vậy?”

“Là Kinh A Di Đà, nói là dùng để siêu độ cho người thân.” Gã sai vặt đáp, “Quý khách sao lại hỏi chuyện này, lẽ nào ngài quen biết tiểu nương tử đó?”

Người áo xanh không trả lời, chỉ rút ra một cuốn sách cũ rồi thanh toán tiền, sau đó vội vã rời khỏi tiệm sách. Dưới nắng người đông đi như dệt, thiếu nữ kia tựa như một giọt nước hòa vào biển cả, chớp mắt đã chẳng thấy tăm hơi.

Hải Triều đã cắt đuôi được nam nhân theo dõi mình. Nàng tìm một quán trà nhỏ trong chợ Tây, chọn một góc khuất ngồi xuống rồi gọi một ấm trà cùng một đĩa hoa quả, thong thả nhâm nhi. Nàng ngồi đó cho đến tận khi mặt trời lặn về tây, hồi trống chiều đầu tiên vang lên mới cầm đao bước ra khỏi quán.

Nam nhân áo xanh kia đương nhiên đã sớm chẳng thấy bóng dáng.

Nàng bước ra khỏi thị phường, hòa vào dòng người đang vội vã về nhà để đi về phía khách quán.

Các sứ thần và cử tử cùng đi thuyền cống tiến kinh đa phần đều ở trong Tiến Tấu Viện, chỗ nào không đủ thì mới sắp xếp ở khách quán này. 

Gần tới ngày đại triều hội, các sứ thần đều đang bận rộn phối hợp với quan viên Bộ Hộ kiểm kê cống phẩm. Các cử tử mới tới kinh thành không lâu, dĩ nhiên sẽ tranh thủ đi dạo các thị phường và chùa chiền danh thắng, không nghe tiếng trống chiều thì sẽ không quay về. Bởi vậy, vào buổi chiều, khách quán gần như không có khách.

Khi sắp đi tới khách quán, nàng chợt nghe thấy tiếng bước chân phía sau.

Tiếng bước chân ấy nhẹ nhàng mà trầm ổn, nghe qua là biết người có võ công, mà lại còn không hề thấp.

Hải Triều bước nhanh vài bước, tiếng bước chân kia cũng nhanh theo. Nàng đi chậm lại, người đó cũng đi chậm lại.

Hải Triều đoán rằng nam nhân áo xanh bám đuôi ở tiệm sách lại đuổi tới, nàng đột ngột quay đầu lại, nhưng thấy đó là một thanh niên chừng mười tám, mười chín tuổi.

Người nọ có màu mắt rất nhạt, dường như mang huyết thống người Hồ, mặc một bộ hồ phục nam giới, đầu đội mũ Hồ nhưng nhìn khung xương thì rõ ràng là nữ nhi.

Hải Triều cau mày: “Ngươi là ai? Tại sao đi theo ta?”

Người nọ hành lễ, vừa mở miệng đã không hề che giấu giọng nữ của mình: “Vọng tiểu nương tử có lễ. Chủ nhân nhà ta muốn mời tiểu nương tử qua phủ một chuyến, xe ngựa đang dừng ở ngoài cổng phường.”

Hải Triều càng thêm cảnh giác: “Chủ nhân nhà ngươi là ai?”

Nữ tử kia nói: “Tiểu nương tử gặp chủ nhân tự khắc sẽ rõ.”

Hải Triều dĩ nhiên không đời nào đi theo một cách mờ mập như vậy: “Ta tới kinh thành để đưa cống phẩm, ở đây chẳng quen biết ai cả. Ngươi không nói rõ ràng, ta sẽ không đi cùng ngươi.”

Nữ tử kia chớp chớp mắt: “Chuyện này e là không do tiểu nương tử quyết định rồi.”

Hải Triều nhấn chặt chuôi đao, đưa mắt quét nhìn bốn phía, không thấy có mai phục nào khác.

Võ công của nữ tử trước mắt này không thấp, nhưng nàng cũng chưa chắc đã thua. Nửa năm qua, gần như cứ hễ mở mắt ra là nàng luyện đao, mỗi ngày đều luyện đến mức kiệt sức, chỉ có như vậy mới có thể chợp mắt được. Nàng tin vào thanh đao của mình, dù không nắm chắc mười phần thắng, nhưng đối phương muốn dễ dàng đưa nàng đi là điều tuyệt đối không thể.

Hải Triều hất cằm: “Vậy thì phải xem ngươi có bản lĩnh đó hay không.”

Nữ tử kia cười duyên một tiếng, dứt khoát thừa nhận: “Thân thủ của tiểu nương tử trên cơ nô tỳ, có điều nếu thực sự giao đấu, tiểu nương tử e là sẽ lỡ mất đại triều hội Tết Nguyên Đán, mọi tâm tư mưu tính của tiểu nương tử cũng theo đó mà đổ sông đổ biển.”

Nàng ta cố ý dừng lại một chút: “Thù của Thám hoa lang tự nhiên cũng chẳng còn ai báo thay nữa.”

Toàn bộ máu trong người Hải Triều dường như nghịch chuyển ngay tức khắc. Nàng vốn biết báo thù cho Lương Dạ định sẵn sẽ muôn vàn khó khăn, nhưng chẳng thể ngờ vừa mới chân ướt chân ráo đến Trường An, mưu đồ của nàng đã bị người ta nhìn thấu như thế.

Là ai đã để lộ tin tức?

Ngoại trừ nàng ra, chỉ có Đỗ thứ sử biết rõ ngọn ngành. 

Nàng sợ liên lụy đến Lục Uyển Anh và Trình Hàn Lân nên ngay cả bọn họ nàng cũng không kể. Chẳng lẽ là Đỗ thứ sử? Nhưng tại sao ông ấy phải làm vậy? Nếu ông ấy sợ bị liên lụy, ngay từ đầu cứ từ chối giúp nàng là được, hay là giữa chừng lại hối hận?

Hải Triều nghĩ mãi không thông, nhưng bàn tay vẫn từ từ nới lỏng chuôi đao.

Đối phương nói không sai, một khi nàng ra tay ở đây, nàng sẽ không còn cơ hội báo thù cho Lương Dạ nữa. Mà đối phương đã biết rõ mục đích của nàng, nếu muốn ngăn cản, nàng cũng chẳng còn cách nào, chỉ có nước đi gặp người kia rồi tính sau.

Ý đã quyết, nàng liền nói: “Dẫn đường đi.”

Nữ tử dẫn nàng ra khỏi cửa phường, bên cạnh cửa quả nhiên đang đậu một chiếc xe nhỏ rèm xanh trông có vẻ tầm thường nhưng con ngựa kéo xe lại có bộ lông bóng bẩy cao lớn phi phàm. Nhà bình thường nếu có một con ngựa thế này chắc chắn sẽ coi như bảo bối, đâu nỡ đem đi kéo xe.

Hải Triều từng làm công chúa trong bí cảnh, nhìn con ngựa này cũng đoán ra được thân thế chủ nhân không hề tầm thường.

Xe ngựa đi về phía Tây, đến đại lộ Chu Tước thì chuyển hướng về phía Nam, rồi cứ thế đi thẳng, đến cổng thành mới dừng lại. 

Người đánh xe khẽ nói vài câu với quân canh, lính canh lập tức cho đi, thậm chí không yêu cầu bọn họ xuống xe kiểm tra, kẻ có được đặc quyền này rõ ràng không phải là quan hoạn bình thường.

Ra khỏi cổng Minh Đức, xe ngựa đi thêm chừng nửa canh giờ nữa mới rẽ vào một trang viên. Những lầu đài đình các nơi đây còn hoa lệ hơn cả phủ công chúa trong bí cảnh của nàng, mái ngói xanh tường đỏ, mái hiên lồng lộng, nhấp nhô theo thế núi, dòng nước uốn lượn chảy qua thềm đá.

Xe dừng lại trước một khuôn viên. 

Hai người xuống xe, bước vào cửa là một khu vườn cây cối xanh tươi, hoa cỏ rực rỡ, chính giữa là một hồ nước phẳng lặng mênh mông. Trên gò đất đá dựng giữa hồ có lầu gác ẩn hiện giữa rừng mai, tiếng đàn thanh thoát lúc đứt lúc nối theo gió vọng lại.

Hải Triều theo nữ tử kia băng qua cầu nổi trên mặt nước, bước lên từng bậc đá dẫn lên lầu quan, nghe thấy trong phòng rèm sáo trùng trùng điệp điệp, chính giữa có một nữ tử đang nằm trên sập mềm nghe đàn, mười mấy tỳ bộc vây quanh, người pha trà, kẻ thêm than, người bưng khay, kẻ rót rượu… không thiếu một ai.

Nữ nhân nọ chừng bốn mươi tuổi, dáng vẻ đầy đặn mà thanh tao, phong thái ung dung. Bà ta hơi nhắm mắt, tay cầm một chiếc như ý bằng bạch ngọc, uể oải gõ nhịp theo khúc nhạc.

Người đang gảy đàn mặc một thân áo trắng, không đội khăn trùm đầu, mái tóc đen bóng ánh xanh được búi lại bằng một chiếc trâm gỗ. Bóng lưng thanh mảnh cao gầy, tiếng đàn cũng mang theo một phong vị cô độc, cao ngạo và lạnh lẽo.

Hải Triều nhìn thấy bóng lưng ấy, bước chân không kìm được mà khựng lại, trái tim cũng hẫng đi một nhịp.

*

Tinh Nguyệt: Chương này chia làm 2 phần.

***

Chương tiếp theo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *