Kiếm Các văn linh – Chương 250

Chương 250

***

Tháng tư đầu hạ, hội hoa Lạc Kinh mỗi năm một lần ở Thần Đô thành vừa mới bế mạc, đây cũng chính là lúc du khách phương vào thành thưởng hoa đã tận hứng mà lục tục rời đi.

Trời vừa mới quá trưa, bên trong hàng trà bên lề con đường cổ ngoài thành đã chen chúc đầy người.

Thế nhưng ở góc trong cùng của quán trà lại có một bức rèm trúc rủ xuống, cách biệt hoàn toàn với vẻ ồn ào, náo nhiệt ở bên ngoài.

Thấp thoáng sau tấm rèm là một nam một nữ đang ngồi, chỉ là cách một lớp rèm trúc nên không nhìn rõ dung mạo, hai người họ hình như cũng chẳng buồn trò chuyện với nhau, không hề thu hút bất kỳ sự chú ý nào của người ngoài.

Lão chủ quán trà tay xách ấm nước đi châm thêm cho khách khứa, những người ngồi trong quán thì ba hoa chích chòe, bàn tán xôn xao về một chuyện lớn truyền ra từ trong thành đêm qua.

“Sao mà giả được chứ? Ngay bên ngoài Ứng Thiên Môn, đêm qua ta vừa mới định vào thành thì nghe thấy tiếng gió rít gào trên đỉnh đầu, mười mấy vệt huyết quang từ trên trời nện thẳng xuống. Ta còn tưởng là kẻ thù đến tìm, nhìn kỹ lại thì hóa ra đều là người của Nhược Muội Đường. Bên hông ai nấy đều đeo ấn tín của Vương thị, có điều trên y phục, trên thân kiếm toàn là máu, nhất định là vừa trở về từ phía Đãng Sơn.”

“Sư huynh của ta đêm qua ở ngay đối diện Đãng Sơn, cách một ngọn núi nhìn sang, nghe nói nửa mảnh trời đều bị thiêu đến đỏ rực!”

“Là Vô Lượng Huyền Hỏa phải không?”

“Ngoại trừ Vô Lượng Huyền Hỏa ra thì còn thứ gì có thể có được cái uy thế bực này? Chắc chắn là do vị công tử kia đích thân ra tay rồi.”

Vừa nghe thấy bốn chữ “vị công tử kia”, nam tử ngồi sau bức rèm trúc chẳng rõ vì cớ gì bỗng nhiên quay đầu lại, phóng tầm mắt nhìn ra ngoài. Thế nhưng đám đông trong quán trà chẳng ai hay biết, lúc này hứng thú bàn tán lại càng thêm phần sục sôi.

Đến cả lão chủ quán cũng không nhịn được mà chen ngang một câu: “Nhưng chẳng phải nghe người ta nói, kể từ khi vị công tử kia trở lại Thần Đô, nhập chủ Vương thị vào mười ba năm trước, phía Nhược Muội Đường này trước nay vốn luôn không phục hắn, bằng mặt không bằng lòng đã lâu, lần này sao bỗng nhiên lại chịu nghe theo hiệu lệnh, can tâm tình nguyện đến Đãng Sơn tru tà vậy?”

Có người cười đáp: “Sao có thể là can tâm tình nguyện được? Chẳng qua là vị kia hạ nghiêm lệnh thúc giục liên hồi, bọn họ không thể thoái thác né tránh mà thôi.”

Cũng có kẻ tặc lưỡi tiếc rẻ: “Chao ôi, đám người Nhược Muội Đường này ngày thường tuy chẳng làm ra việc gì tốt đẹp, nhưng đi những bốn mươi người, vậy mà chỉ có mười hai người còn sống trở về…”

Thế nhưng lời còn chưa dứt, bên cạnh lại có một gã tráng sĩ giọng nói ồm ồm vang lên: “Đấy chẳng phải là do bọn họ tự làm tự chịu sao?”

Mọi người không hiểu: “Đạo hữu nói thế là có ý gì?”

Gã tráng sĩ bèn bảo: “Ta nghe nói, vị công tử kia dẫu hạ nghiêm lệnh thúc giục gấp rút, nhưng trước khi bọn họ lên đường, hắn đã sớm định ra kế sách toàn vẹn tru tà cho họ rồi, chỉ cần y kế mà hành sự là có thể đại công cáo thành trở về, còn cẩn thận dặn dò bọn họ không được khinh địch. Ai mà ngờ được, cái đám người này đến Đãng Sơn, cậy vào tu vi của mình, vậy mà chỉ phái có hai mươi người tiên phong tiến vào sào huyệt địch. Đám tà tu ở Đãng Sơn kia, kẻ nào kẻ nấy đều là những đại ma đầu năm xưa đi theo Bạch Đế làm loạn sao, có phải dạng vừa đâu? Chúng lập tức nắm lấy cơ hội, không chỉ giết sạch sành sanh hai mươi người này, mà còn bao vây ngược luôn số người còn lại. Nếu không phải bên phía công tử nhìn ra có biến, đích thân đến giải cứu thì mười hai cái mạng kia liệu có sống sót trở về được hay không còn là chuyện khó nói!”

Có kẻ ở bên cạnh gật đầu phụ họa: “Phải đấy, ta cũng nghe nói như thế. Đêm qua chẳng phải là Long Môn dạ yến sao? Vị công tử kia đáng lý ra phải đến chủ trì, kết quả là vì phải đi cứu bọn họ nên mới bị chậm trễ mất trọn vẹn nửa canh giờ.”

Mọi người phút chốc đều “ồ” lên một tiếng, hiển nhiên là vô cùng kinh ngạc.

Trong quán có người nhịn không được mà cảm thán: “Năm xưa vị này vừa mới trở lại Thần Đô, tiếp quản Vương thị, nghe nói Nhược Muội Đường của Trung Châu liên kết với mấy đường khác, ngầm giở không biết bao nhiêu trò ngáng chân sau lưng hắn. Không ngờ vào nguy nan, hắn vậy mà lại chịu gạt bỏ hiềm khích trước đây, đích thân đi viện trợ, quả thực là khoan hồng từ bi, bồ tát sống!”

Ai nấy đều gật đầu lia lịa: “Ai bảo không phải chứ?”

Chỉ riêng phía sau bức rèm trúc ở góc trong cùng kia, bỗng nhiên truyền ra một xùy cười đầy giễu cợt: “Khoan hồng từ bi, bồ tát sống? Hắn mà cũng xứng ư.”

Mọi người đều là ngẩn ra một mực, dồn dập quay đầu nhìn lại, lúc này mới chú ý tới trong cái quán trà tồi tàn này còn treo một bức rèm trúc, mà kẻ vừa lên tiếng phát ra âm thanh kia chính là vị nam tử ngồi ở phía bên trái bên trong tấm rèm. Dẫu cách một lớp rèm trúc, chỉ có thể nhìn thấy một chiếc bóng mờ mịt, nhưng cũng có thể mơ hồ cảm nhận được khí độ bất phàm của người nọ.

Có điều, lời hắn vừa thốt ra không khỏi khiến người ta thấy chướng tai gai mắt.

Gã tráng sĩ giọng ồm ồm bên ngoài nghe vậy cau chặt mày: “Lời này của các hạ là có ý gì? Mười ba năm qua, Thần Đô công tử chấp chưởng Vương thị, bên trong thì cải cách tệ nạn tích tụ, bên ngoài thì trừ diệt lũ tà ma. Ngay đến vụ vỡ đê Hà Khẩu năm ngoái, hay nạn hạn hán ở Trung Châu năm nay, ngài ấy đều phái tu sĩ đến cứu tế phát chẩn. Nếu ngài ấy còn không tính là từ bi, không tính là bồ tát, thì thế gian này hiện tại còn ai xứng đáng nữa?”

Nam tử bên trong rèm trúc nâng chén trà lên, lạnh lùng bảo: “Lũ tà tu Đãng Sơn đâu phải dạng tầm thường, đến loại người như các ngươi còn biết, Nhược Muội Đường làm sao có thể khinh địch? Bản chất đây vốn là một thế cục không lời giải, chẳng qua có kẻ lấy đại nghĩa thương sinh ra ép buộc, bắt bọn họ phải đi nộp mạng mà thôi. Đám tu sĩ Nhược Muội Đường kia, ngày thường tất nhiên không làm việc thiện, chết không đáng tiếc, thế nhưng Vương Thứ hắn vì mưu đồ trừ khử dị kỷ, mượn đao giết người, thủ đoạn tàn khốc đến nhường này mà lại không phải gánh nửa tiếng xấu, chẳng chạm một phần nhân quả, quả thực đúng là ‘tâm địa bồ tát’!”

“Theo ý của các hạ, chẳng lẽ việc tu sĩ Nhược Muội Đường bỏ mạng ở Đãng Sơn lại là do vị công tử kia cố ý hãm hại sao?” Trong quán có người phẫn nộ quát lên: “Nếu ngài ấy có ý hãm hại, đêm qua hà tất phải đích thân đến giải cứu?”

“Giải cứu?” Nam tử sau rèm trúc cười lạnh một tiếng: “Sao ngươi biết đó là giải cứu, chứ không phải là giết người diệt khẩu?”

Trong thời gian ngắn tất cả mọi người xung quanh đều nghẹn lời sững sờ.

Nam tử nọ nâng chén trà, chỉ lạnh nhạt nói: “Một mồi lửa thiêu rụi cả tòa Đãng Sơn thành bãi đất trắng. Đêm đó cũng có tu sĩ của các thế gia khác chạy tới, khi còn cách sơn cốc mười mấy dặm, họ vẫn còn nghe thấy tiếng thét gào thảm thiết, nhưng đến lúc đặt chân vào trong cốc, thì chỉ còn lại một vùng xương trắng la liệt, ngoại trừ mười mấy kẻ đã chạy thoát từ trước, không một ai sống sót! Ngay cả năm xưa Bạch Đế sa vào ma đạo, thao túng sinh tử cũng chưa thấy tạo ra cảnh tượng thảm khốc đến mức này…”

Nữ tử ngồi đối diện khẽ ngước mắt nhìn hắn.

Nam tử lại hạ rèm mắt xuống, trong giọng nói có vẻ nhạt nhòa: “Bản mặt thật của kẻ này thế nào, Tam đại thế gia ai nấy đều biết rõ, chỉ có lũ người thế tục si ngu các ngươi là còn bị che mắt, coi hắn vẫn như ngày xưa, tôn hắn làm bồ tát!”

Lời này vừa thốt ra, có người bắt đầu do dự hoài nghi, cũng có kẻ nổi trận lôi đình.

Gã tráng sĩ giọng ồm ồm trước đó vốn đã nhẫn nhịn rất lâu, lúc này rốt cuộc nhịn không nổi nữa, đập bàn đứng phắt dậy: “Càn rỡ, đúng là nói càn, đổi trắng thay đen! Ngươi có bằng chứng gì…”

Gã bước lên một bước, đang định lên tiếng chất vấn.

Thế nhưng chỉ vừa mới bước ra một bước này, ánh mắt gã chợt đông cứng lại, dán chặt vào một điểm, sắc mặt trong nháy mắt biến đổi liên tục mấy bận.

Những người còn lại nhìn theo tầm mắt của gã, tim cũng đột ngột chấn động dữ dội.

Hóa ra một cơn gió mát vừa thổi qua, bức rèm trúc rủ xuống lúc trước bị vén lên một khe hở nhỏ, phía sau một nam một nữ ngồi trong rèm, mỗi người đều có vài nam nữ thị tùng đứng hầu cận. Một trong số các thị giả đang đưa mắt nhìn ra ngoài rèm, ánh mắt lạnh lùng thờ ơ, mà trên vạt áo của người đó rõ ràng có thêu đồ đằng Hoa Kim Đèn!

Đám tu sĩ dừng chân nghỉ ngơi trong quán trà này, có ai là không vừa ra khỏi Thần Đô hoặc sắp sửa tiến vào Thần Đô, làm sao có thể không biết đồ đằng này đại biểu cho điều gì?

Trong Tam đại thế gia, Tống thị!

Thân phận của một nam một nữ ngồi đối diện nhau sau bức rèm trúc này, đốn chốc đã rõ rành rành như ban ngày!

Quán trà vốn dĩ còn có vài phần hỗn loạn xôn xao, bỗng nhiên rơi vào một khoảng lặng ngắt như tờ, tựa như tất cả đều bị bóp nghẹt lấy cuống họng. Cũng chẳng biết là ai lý nhí nói một câu “Đi thôi”, những người đang kinh hoàng lúc này mới như sực tỉnh bừng tỉnh. 

Bọn họ hoặc là vội vội vàng vàng hành lễ một cái với phía sau rem, hoặc là lặng lẽ quay người bỏ đi không kèn không trống. Đến cả gã hán tử râu quai nón kia dù có nghiến chặt răng hàm, chung quy cũng chẳng dám nói nốt những lời còn lại, cúi gằm mặt đặt tiền trà xuống bàn, rồi lục tục tháo lui cùng đám đông.

Trong nháy mắt, quán trà đã trở nên trống rỗng, lạnh lẽo cô liêu.

Chỉ còn một nam một nữ bên trong rèm trúc là vẫn an tọa như cũ, hoàn toàn không mảy may bận tâm đến những chuyện vừa xảy ra bên ngoài.

Nữ tử lúc này mới thở dài một tiếng: “Ta nhớ rằng, Lục công tử ngày trước không phải là người thích tranh đoạt nhanh miệng bằng những lời trào phúng thế này.”

Vạt váy thêu kín lá lan chi khẽ lay động theo làn gió, dung mạo của Tống Lan Chân so với mười ba năm trước không có quá nhiều thay đổi, chỉ là khí phái quanh thân đã trở nên trầm ổn sâu sắc hơn, lại càng thêm không lộ vui buồn ra mặt. 

Dẫu miệng thở dài, nhưng trong chất giọng phẳng lặng kia lại chẳng nghe ra được một phần cảm xúc.

Kẻ có thể được nàng cung kính gọi một tiếng “Lục công tử” này, tự nhiên cũng chỉ có Lục Ngưỡng Trần.

Hai người bọn họ vốn là ngẫu nhiên tương phùng trên con đường đến Mang Sơn để tế bái Kính Hoa phu nhân, lúc này mới ngồi lại cùng nhau dùng một chén trà.

Chỉ là so với Tống Lan Chân, Lục Ngưỡng Trần đối chiếu với năm xưa dường như đã gầy guộc đi vài phần, gương mặt từng đủ tư cách để gọi một tiếng “quý công tử” ngày nào, nay thấp thoáng ẩn hiện nét âm trầm lạnh lẽo. 

Nghe thấy lời của Tống Lan Chân, hắn cũng chỉ cười nhạt một tiếng: “Những năm qua Lục mỗ như đi trên băng mỏng, từng bước gian truân, tự nhiên chẳng thể nào tự tại được như Lan Chân tiểu thư, tìm được chỗ dựa tốt, lại lọt vào mắt xanh của Đạo chủ. Hôm nay đúng vào ngày giỗ của cô mẫu, nghĩ đến mối thù năm xưa chưa được thanh toán, trong lòng u uất khó tránh khỏi oán hận dâng trào, nhìn không nổi cảnh thế nhân tôn sùng kẻ kia làm thánh chủ cứu thế.”

Tống Lan Chân nghe ra được trong lời nói của hắn có giấu kim, nhưng nàng cũng chẳng bận tâm, chỉ bảo: “Mối thù của sư tôn, đương nhiên không phải chỉ có một mình ngươi ghi khắc trong lòng. Có điều, với thân phận hiện tại của hắn, chúng ta không động vào hắn được. Huống hồ kể từ sau khi có được Kiếm Cốt của Chu Mãn, tu vi của hắn tiến triển vượt bậc, một ngày đi ngàn dặm. Nhìn trận chiến ở Đãng Sơn đêm qua mà xem, uy thế của mồi huyền hỏa kia, dẫu chưa tới Hóa Thần thì cũng chẳng cách bao xa, vượt trội hơn hẳn ngươi và ta.”

Lục Ngưỡng Trần nói: “Đây chính là mục đích của Chu Mãn phải không?”

Hắn cười lạnh một tiếng: “Đúc cho pho tượng bùn này một cái thân bằng vàng, rồi cung kính đưa vào miếu đường của các thế gia. Ai nấy đều biết rõ hắn là cái gai mà Chu Mãn cắm vào, nhưng lại vì một sợi mệnh tuyến kia, vì cái gọi là Thiên Hiến kia mà đành trương mắt nhìn hắn thanh toán thù cũ, nhổ cỏ tận gốc những kẻ bất đồng chính kiến, không thể động vào hắn mà cũng chẳng dám động vào hắn! Tam đại thế gia chúng ta rơi vào cảnh nội đấu tàn sát lẫn nhau, còn nàng ta thì có thể ngồi trên núi quan hổ đấu, an nhiên vô sự!”

Một mồi huyền hỏa ở Đãng Sơn đêm qua chẳng qua cũng chỉ là hình ảnh thu nhỏ cho suốt mười ba năm qua mà thôi.

Cái tên bệnh tật ốm yếu kia, kể từ sau biến cố ở Bạch Đế Thành, tâm tính đã thay đổi, mừng giận vô thường, xem nhẹ việc giết chóc đến mức cực điểm, gần như đã khiến cho người người trong thế gia tự cảm thấy nguy hiểm, chỉ riêng việc nghĩ tới vào ban đêm thôi cũng đủ để gặp phải một trận ác mộng.

Mà đầu sỏ gây nên tất cả những chuyện này, chính là Chu Mãn.

Tống Lan Chân hiển nhiên cũng nhớ lại tầng tầng lớp lớp những sự tình trong suốt mười ba năm qua, im lặng một hồi lâu mới lên tiếng: “Nàng ta là truyền nhân của Võ Hoàng, tự có chỗ hơn người. Đến cả Đạo chủ còn buộc phải nhẫn nhịn tính toán của nàng ta, huống chi là ngươi và ta?”

Lục Ngưỡng Trần nói: “Năm xưa chuông vàng vì nàng ta mà ngân vang, nhưng khi đó nàng ta có Kiếm Cốt, còn bây giờ thì sao? Cái tên ma ốm kia sau khi có được Kiếm Cốt có thể một ngày đi ngàn dặm, đủ thấy thứ lợi hại từ trước đến nay chưa từng là nàng ta, mà là bộ Kiếm Cốt kia.”

Tống Lan Chân không hề phản bác.

Lục Ngưỡng Trần đặt chén trà trở lại trên bàn, chỉ lạnh nhạt buông câu: “Một Chu Mãn đã mất đi Kiếm Cốt, liệu có còn là Chu Mãn nữa hay không?”

Ánh sáng trong mắt Tống Lan Chân khẽ động, dường như đang chìm sâu vào suy tư.

Lục Ngưỡng Trần liếc nhìn nàng một cái, rồi nói tiếp: “Tưởng chừng không chỉ có một mình ta nghe danh, hai năm trước tại Nho môn ở Tề Châu có xuất hiện một nhân vật tầm cỡ, danh xưng ‘Đông Phương Sách’, kinh học lục nghệ không gì không thông, thiên phú trác tuyệt, phẩm tính cực giai. Đại nho Mạnh Xuân Bán đã đích thân khẳng định, kẻ này mới thực sự là truyền nhân của Võ Hoàng. Hiện tại khắp trong ngoài Tề Châu, người ta chỉ biết đến Đông Phương Sách, chứ chẳng còn ai nhớ rõ từng có một Chu Mãn tồn tại nữa rồi.”

Có một khoảnh khắc, Tống Lan Chân rất muốn nói: Nhưng ngươi vẫn nhớ, và ta cũng vẫn nhớ.

Thế nhưng lời đã đến bên khóe môi, nàng nhìn nhìn sắc mặt của Lục Ngưỡng Trần, rốt cuộc vẫn chọn cách nuốt ngược vào trong, chỉ bảo: “Những năm này, Kim Bất Hoán bọc giấu hành tung của nàng ta vô cùng nghiêm ngặt, e là khó lòng dò thám được. Hơn nữa còn có Đạo chủ ở đó, một ngày Chu Mãn còn nắm giữ mệnh tuyến, một ngày Đạo chủ chưa có được Thiên Hiến, thì ngươi và ta một ngày cũng không động được vào nàng ta.”

Lục Ngưỡng Trần nói: “Nhưng chỉ có những kẻ để tâm đến Thiên Hiến, mới để tâm đến sống chết của bọn họ, không phải sao?”

Tống Lan Chân nghe thấy câu này, mơ hồ cảm nhận được mũi nhọn sắc bén giấu kín bên trong, cõi lòng đột nhiên kinh hãi buốt lạnh.

Thế nhưng khi ngước mắt nhìn lên, gương mặt Lục Ngưỡng Trần đã khôi phục lại dáng vẻ tầm thường như mọi khi, hắn chỉ mỉm cười nhạt với nàng: “Thời gian không còn sớm nữa, ta phải đến trước mộ của cô mẫu để dâng hương rồi.”

Dứt lời, hắn đứng dậy cáo từ nàng.

Tống Lan Chân dùng ánh mắt nghi kỵ và đề phòng lặng nhìn hắn bước ra khỏi quán trà, cùng với đám tu sĩ Lục thị dần dần biến mất ở phía cuối con đường dẫn tới Mang Sơn. 

Nàng đứng lặng một lát, thế nhưng đột nhiên lại bật cười thành tiếng.

Chu Mãn à Chu Mãn, ai nấy đều muốn biết, nếu không còn Kiếm Cốt, liệu ngươi có còn xứng đáng với cái tên họ này nữa hay không.

Mười ba năm qua, tên ma ốm kia ở Thần Đô chẳng qua chỉ là đang tự dày vò hành hạ chính mình.

Còn ngươi thì sao, mười ba năm nay, ngươi đang ở nơi nào, và đang trải qua những tháng ngày như thế nào?

Tống Lan Chân chậm rãi đặt chén trà xuống, cuối cùng lại tìm thấy một thứ hứng thú đã từ lâu không còn cảm nhận được.

Trong Thần Đô, ba tòa Đảo Huyền Sơn vẫn như cũ sừng sững cao cao như những bóng râm khổng lồ ngự trị trên bầu trời thành trì, Vương thị đứng ở vị trí chính giữa. Cho dù phố xá bên dưới có đông đúc sầm uất đến đâu, thì dường như cũng chẳng thể khuấy động nổi một phần trên chốn thắng cảnh nhân gian này.

Trước tầng tầng lớp lớp những bậc thềm đá, một toán bộc dịch mới được tuyển chọn vào môn phái đang xếp thành một hàng đi ra.

Bỗng nhiên trên bầu trời xa có một luồng sáng lướt tới, đám nô bộc mới đến còn chưa kịp phản ứng gì, sắc mặt gã chấp sự dẫn đầu phía trước đã đột nhiên thay đổi. Hiển nhiên gã biết rõ thân phận của người tới, vội vàng dừng bước chân, khom lưng cúi đầu.

Luồng sáng kia đáp xuống, thân hình của Khổng Vô Lộc hiển lộ ra.

Trang phục chấp sự của Nhược Ngu Đường ở Thục Châu năm xưa nay đã được cởi bỏ, thay vào đó là tấm lệnh bài tổng quản được đeo ở bên hông.

Với tu vi chỉ vừa vặn mới qua Nguyên Anh của gã, lại có vẻ như cũng chẳng giữ chức vị cao sang gì, vậy mà có thể khiến cho gã chấp sự dẫn đầu kia kiêng kị đến mức ấy, khó tránh khỏi khiến cho đám bộc dịch mới gia nhập Vương thị này lấy làm lạ lùng khó hiểu.

Đợi đến khi Khổng Vô Lộc đã đi khuất trước mặt họ, mới có kẻ nhỏ giọng xì xào bàn tán.

Gã chấp sự dẫn đầu phía trước sầm mặt xuống, lạnh giọng cảnh cáo: “Một người có bao nhiêu bản sự, không chỉ nhìn xem hắn ngồi ở vị trí nào, mà còn phải xem hắn đang làm việc cho ai. Nếu các ngươi đến cả cái đạo lý này cũng không thông suốt, tiến vào Vương thị mà còn dám khua môi múa mép, chỉ sợ sau này chết thế nào cũng không biết đâu!”

Đám đông phút chốc im thin thít như hến.

Khổng Vô Lộc tự nhiên biết rõ, bọn họ không phải là đang sợ hãi hắn, mà là đang sợ hãi người đứng ở sau lưng hắn. 

Nếu là mọi khi, có lẽ hắn còn có tâm trí mà ngẫm nghĩ về những chuyện sóng gió quỷ dị, gạt gẫm tranh đoạt đã trải qua kể từ khi cùng nhau đến Vương thị vào mười ba năm trước, thế nhưng vào lúc này hắn chẳng còn một chút tâm tư nào như thế nữa.

Hắn không rảnh rỗi để tâm đến vạn vật xung quanh, chỉ lầm lũi rảo bước thẳng về phía trước.

Xuyên qua những đình đài lầu các, đi vòng qua Hư Thiên Điện không một bóng người, cuối cùng hắn cũng đến được nơi sâu nhất trong muôn vàn lầu đài của Vương thị, một lần nữa nhìn thấy tòa đại điện đen kịt kia.

Lúc này, bóng hoàng hôn của buổi chiều tà đang phủ chụp xuống, có vài tên thị giả đang cầm những chiếc gáo đồng dội nước xuống mặt đất.

Từng lớp, từng lớp nước lẫn máu cứ thế bị xối loãng ra, chảy xuôi từ trên các bậc thềm xuống bên dưới.

Chẳng cần nghĩ cũng biết, cách đây không lâu nơi này đã xảy ra chuyện kinh hoàng gì.

Thế nhưng đám thị giả này, kẻ nào kẻ nấy mặt mũi yên lặng như tờ, dường như đã sớm coi việc này như cơm bữa vậy.

Nơi những đường rãnh khe nứt trên mặt đất, thậm chí đã đọng lại một màu đỏ sậm xấp xỉ như sắc đen, căn bản là không cách nào cọ rửa cho sạch nổi.

Khi bước qua những bậc thềm này, Khổng Vô Lộc có một khoảnh khắc cảm thấy cái lạnh thấu xương.

Thế nhưng thứ còn lạnh lẽo hơn thế, lại chính là tòa đại điện trước mắt hắn.

Phía sau lưng vẫn còn sót lại chút ánh sáng tàn của tịch dương, nhưng bên trong điện lại chẳng thắp lấy một ngọn đèn, tối đen như mực.

Khổng Vô Lộc bước chân vào trong, cảm thấy mảnh hắc ám này ngỡ như hun hút không có điểm dừng, bản thân hawns không phải là đang đặt chân vào một cung thất hoa lệ mà là đang bước vào bên trong một ngôi mộ cổ lạnh giá.

Cho đến khi dưới chân khựng lại một nhịp, dường như hắn đã vấp phải vật gì đó, phát ra tiếng động, thì ở phía trước mới có một luồng ánh sáng lạnh lẽo bỗng nhiên vụt sáng lên một cách u uẩn, tựa như bị làm cho kinh động.

Nơi đó là một chiếc bể nước hình tròn.

Thanh Lãnh Diễm Cựu dính đầy máu tươi đang nằm chỏng chơ bên rìa bể, một bóng lưng đang ngồi hướng mặt về phía bể nước, khẽ buông lỏng năm ngón tay, thả một chiếc kính xương màu xám trắng trầm xuống đáy bể.

Trong chớp mắt, muôn vàn bóng ảnh đen trắng khúc xạ bắn ra bốn phía.

Lấy vị trí của kính xương làm trung tâm, từng sợi tơ sáng, sợi thì đen, sợi thì trắng, đan cài bện chặt vào nhau ngay phía trên mặt nước.

Theo luồng ánh sáng lập lòe kia, Khổng Vô Lộc cúi đầu xuống, bấy giờ mới nhìn rõ thứ vừa rồi làm vấp bước chân mình là một cái xác không hồn đã khô quắt, tóp teo lại.

Khoảnh khắc này, hắn suýt chút nữa không thể khắc chế nổi cơn buồn nôn đang dâng lên nghẹn ứ trong cổ họng.

Bóng hình bên bể nước không hề quay đầu lại, hắn chỉ chăm chăm nhìn vào một vệt trong số muôn vàn bóng ảnh đen trắng kia, cất giọng nhàn nhạt: “Đến cả ngươi… cũng bắt đầu sợ ta rồi.”

Hắn lại đang nhìn thấu nhân tâm,

Chỉ là sắc trắng vốn có thể cân bằng với sắc đen ngày trước, chẳng biết từ bao giờ nay chỉ còn sót lại một nhúm ảm đạm ít ỏi. Mà trong chiếc kính xương kia, đập vào mắt lại là một màu đen ngòm nồng nặc, xoay vần cuồn cuộn, gần như đã đậm đặc quánh lại như mực mài, chỉ nhìn thôi cũng đủ khiến người ta cảm thấy âm khí lạnh lẽo, ghê rợn thấu xương.

Khổng Vô Lộc không biết những mảng màu như mực đặc kia sẽ mang lại bao nhiêu cực hình tra tấn, cũng không biết những bóng ảnh mà hắn đang nhìn lúc này có phải chính là của mình hay không, mặt cắt hắn như cắt không còn một giọt máu, lặng im quỳ sụp xuống.

Bóng người kia dường như cũng chẳng cần hắn phải hồi đáp mà chỉ tự lẩm bẩm một mình như thể nói mớ: “Ngươi nói xem, nàng có biết hiện tại ta đã giết nhiều người như vậy, có thể giết nhiều người như vậy không?”

Khổng Vô Lộc không dám hé răng ho he nửa lời.

Bóng người kia dường như đã trở nên tê dại, chậm rãi nói: “Nàng tất nhiên là không biết. Không cần phải biết, cũng chẳng muốn biết, Kim Bất Hoán cũng sẽ không để nàng biết đâu.”

Nỗi sợ hãi tích tụ trong lòng Khổng Vô Lộc kể từ lúc bước vào đại điện bắt đầu lan tỏa ra khắp toàn thân, cả người hắn không kìm được mà run bần bật.

Bóng người kia rốt cuộc cũng mở lời hỏi: “Lần này, lại là tin tức gì?”

Khổng Vô Lộc chỉ biết dập đầu thật sâu, áp chặt trán lên mặt đất giá lạnh, đến cả giọng nói cũng run rẩy theo: “Là… là phía Tề Châu bên kia, Kim lang quân truyền tin, Chu cô nương một tháng trước có liên lạc, bảo đã đến bờ hồ Động Đình, thế nhưng kể từ ngày hôm qua, đã… đã… bặt vô âm tín!”

*

Mọi âm thanh trong đại sảnh bỗng chốc lặng ngắt như tờ, bóng người đứng bất động một hồi lâu mới chậm rãi xoay người lại.

“Trước nay cứ nửa tháng lại truyền tin một lần để báo bình an, đột nhiên đứt đoạn liên lạc, nhất định là đã xảy ra chuyện lớn rồi!”

“Nhưng hành tung của Chu cô nương suốt mười một năm qua vốn bất định, biết đâu lần này quên không liên lạc với lang quân, chẳng lẽ là chuyện không thể xảy ra sao?”

“Không có khả năng, trước đây chưa từng có tiền lệ! Huống hồ một tháng trước nàng đột ngột truyền tin, bảo lang quân đêm nay điều động chúng ta đến thung lũng Kinh Thạch Dục, đến lúc đó sẽ gặp mặt. Đủ thấy nàng vốn dĩ là muốn trở về Tề Châu, càng không thể nào đột nhiên lại quên mất việc liên lạc với lang quân được.”

“Liệu có khi nào bị rò rỉ tiếng gió, phía thế gia đã đánh hơi được hành tung của Chu cô nương rồi không…”

“Thần Đô có… Tóm lại nếu bên kia có dị động, tất sẽ bẩm báo cho lang quân biết. Bất luận thế nào, chúng ta nên lập tức phái người đến vùng Động Đình để tìm kiếm!”

“Nhưng nếu đánh trống khua chiêng đại động can qua như vậy, không sợ sẽ làm bại lộ hành tung của Chu cô nương sao?”

“Chu cô nương đã nói đêm nay gặp mặt tại Kinh Thạch Dục ở núi Đại Nhạc, biết đâu chừng nàng ấy đã đến nơi từ sớm rồi?”

Phía sau lưng hắn, đủ loại âm thanh nhao nhao đã cãi vã, tranh luận thành một mảnh hỗn độn.

Kim Bất Hoán đứng tựa bên bậu cửa sổ, dõi mắt nhìn xuống dòng người qua lại tấp nập trên đường phố bên dưới, thế nhưng hắn lại giống như chẳng nghe thấy gì, chỉ thẫn thờ xuất thần.

Đây là một tòa lâu các nằm ngay mặt phố, đình đài trước sau thông nhau, chiếm diện tích cực kỳ rộng lớn, mặt tiền có treo một tấm biển hiệu lớn đề ba chữ Từ Hành Trai. 

Suốt mười ba năm qua, tại tòa thành Tế An phồn hoa đô hội bậc nhất cõi Tề Châu này, nơi đây đã trở thành một tồn tại mà không ai là không biết, không người nào là không hay.

Đứng từ trên lầu phóng tầm mắt ra xa, ngọn núi vĩ đại sừng sững cao vút cách đó hơn ba mươi dặm lọt vào trong tầm mắt.

Tịch dương buông xuống, hào quang của buổi chiều tà rọi lên sống núi, phân định rạch ròi hai phe sáng tối, âm dương. 

Ngọn núi Đại Nhạc trong truyền thuyết cứ như vậy, sừng sững tựa như một kỳ tích mọc lên trên vùng đất bằng phẳng rộng lớn, nhìn xuống bao quát toàn bộ Tề Châu.

Chỉ là khắc này, trong lầu chẳng một ai có tâm trí đâu mà thưởng ngoạn cảnh đẹp, tất cả đều đang loạn cào cào thành vì chuyện Chu Mãn đột ngột mất liên lạc.

Thái tiên sinh chịu trách nhiệm quản lý sổ sách rốt cuộc nhịn không được, phải cao giọng hét lớn: “Được rồi, tất cả im lặng chút đi, để cho lang quân được yên tĩnh một lát!”

Mọi người phút chốc lặng ngắt như tờ, rồi theo bản năng, tất cả đều đổ dồn ánh mắt về phía bóng người bên bậu cửa sổ.

***

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *