Mộng hồi Tây Châu – Chương 264

Chương 264: Phủ thứ sử

***

Hải Triều nằm quay mặt vào phía trong giường, rất lâu không nói một lời. Lâu đến mức Lục Uyển Anh cứ ngỡ nàng đã thiếp đi, đang định vén lại chăn cho nàng thì chợt nghe thấy nàng khẽ gọi một tiếng “Lục tỷ tỷ”, giọng nói ấy vậy mà lại có chút phấn khích.

Trái tim Lục Uyển Anh run lên bần bật, nàng cẩn thận hỏi khẽ: “Hải Triều, có chuyện gì vậy?”

Hải Triều quay người lại, đôi mắt sáng rực đến đáng sợ, như thể có hai ngọn lửa đang bùng cháy bên trong.

“Lục tỷ tỷ.” Nàng gọi thêm lần nữa, “Tỷ có nhớ cuộn lụa thư chúng ta tìm thấy trong Miếu đá ở Tây Châu không? Trên đó có rất nhiều hình vẽ.”

Lục Uyển Anh hơi bất ngờ, gật đầu đáp: “Ta nhớ mang máng.”

Hải Triều dường như không nén nổi kích động, nàng vịnh thành giường muốn ngồi dậy, Lục Uyển Anh vội vàng nhẹ tay ấn nàng nằm xuống: “Đừng dậy, cơ thể muội vẫn chưa hồi phục đâu.”

Hải Triều ngoan ngoãn nằm yên, nhưng gương mặt vì hưng phấn mà đỏ bừng lên: “Muội nhớ trong bức vẽ cuối cùng, có mấy người tí hon khảm bảy viên châu báu vào rãnh trên tế đàn… Có phải muội nhớ nhầm rồi không?”

Lục Uyển Anh lắc đầu: “Muội không nhớ nhầm đâu, ta cũng nhớ có một bức vẽ như vậy.”

Hải Triều túm chặt lấy tay áo tỷ ấy: “Chúng ta vẫn chưa thực hiện bước này, chứng tỏ đây vẫn là bí cảnh thứ bảy, đúng không?”

Lục Uyển Anh nhìn vào mắt Hải Triều, niềm hy vọng trong đó thiêu đốt nàng, khiến trái tim nàng như sắp tan thành tro bụi.

Trên thư lụa quả thực có bức vẽ ấy, nhưng một bức vẽ lờ mờ như thế thực chất có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Chỉ là, đây không thể nào là bí cảnh thứ bảy được, bởi vì nàng đã trở về được hơn một tháng rồi, Hải Triều không thể quên điều đó, nàng chỉ là không cam lòng thừa nhận mà thôi.

Còn Lương công tử đã chết thật rồi. Hai ngày trước Đỗ thứ sử vừa nhận được tin báo từ kinh thành, chuyện này không thể có sai sót. Cho dù họ thực sự có thể quay lại Tây Châu, tìm thấy tòa miếu đá đó, liệu Lương công tử có chắc chắn sống lại được không?

Lục Uyển Anh lặng lẽ cúi đầu, không dám nhìn vào đôi mắt ấy. Nàng không nỡ dập tắt hy vọng của Hải Triều, nhưng để nàng cứ bám víu vào tia hy vọng mong manh đó, chẳng biết liệu có còn tàn nhẫn hơn không.

Lòng nàng rối bời như tơ vò, nửa ngày sau mới thốt ra được một câu: “Muội đừng suy nghĩ nhiều, dưỡng sức cho tốt đã. Ta đã gửi thư đến tiệm của Trình gia ở Giang Nam, chắc vài ngày nữa sẽ chuyển đến tay Trình Hàn Lân. Đợi huynh ấy tới rồi, chúng ta sẽ cùng bàn bạc kỹ hơn.”

Ngọn lửa trong mắt Hải Triều lịm dần, phấn khích cuồng nhiệt kia cũng theo đó mà tan biến. Nàng không nói thêm một lời nào, chỉ khẽ gật đầu rồi nhắm nghiền hai mắt.

Lục Uyển Anh ngồi bên giường một lát, nghe nhịp thở của nàng dần nặng nề hơn mới giúp nàng tém lại góc chăn, khẽ chạm lên trán nàng rồi thở dài một tiếng. Nàng đứng dậy buông rèm lụa và màn che màu xanh xuống, đẩy cửa bước ra ngoài.

Sau khi tỷ ấy đi, Hải Triều lập tức mở mắt, nhìn trân trân lên đỉnh màn tối tăm. Nàng không ngủ được, đang chìm trong ác mộng sao nàng có thể ngủ cho nổi?

Lục Uyển Anh đã đến thăm Hải Triều mấy lần, lần nào nàng cũng đang hôn mê, cứ thế trôi qua một ngày một đêm.

Lục Uyển Anh có chút sợ hãi khi phải đối mặt với Hải Triều. Nàng sợ Hải Triều sẽ nắm lấy tay áo mình mà đòi quay lại Tây Châu, sợ ngọn lửa cuồng nhiệt trong mắt nàng, nhưng còn sợ hơn cả là đống tro tàn đổ nát để lại sau khi ngọn lửa ấy lụi tắt.

Hải Triều mở mắt, khẽ gọi một tiếng “Lục tỷ tỷ”.

Thứ cảm xúc ẩn chứa trong tiếng gọi ấy khiến tim Lục Uyển Anh thắt lại, nàng khẽ đáp: “Trong người đã thấy khá hơn chút nào chưa?”

Hải Triều gật đầu, như thể tự lẩm bẩm một mình: “Đây là phủ Thứ sử thật, đúng không?”

Lục Uyển Anh nhìn hốc mắt lõm sâu của nàng, cố nén dòng lệ, khẽ đặt tay lên mu bàn tay nàng: “Hải Triều, muội cứ khóc ra đi.”

Hải Triều không khóc, nàng chỉ nhìn chằm chằm lên đỉnh màn, đôi mắt đầy vẻ mịt mờ và bối rối, dường như không thể thấu hiểu nổi rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra. Lục Uyển Anh chỉ đành ngồi bên giường lặng lẽ bầu bạn với nàng.

Chẳng biết qua bao lâu, cuối cùng nàng cũng mở miệng: “Lục tỷ tỷ, đao của muội đâu?”

Lục Uyển Anh sợ đến mức mặt cắt không còn giọt máu.

Hải Triều nói: “Lúc muội được cứu lên bờ, thanh đao có ở đó không? Đó là vật kỷ niệm A nương để lại cho muội.”

Lục Uyển Anh bấy giờ mới biết mình nhìn gà hóa cuốc, vội vàng nói: “Đồ đạc của muội đều được cất trong sương phòng, để ta đi tìm.”

Một lát sau, tỷ ấy mang thanh đao đài ngọc của Hải Triều đến cho nàng xem. Có lẽ do ngâm dưới nước quá lâu, lớp da bọc chuôi đao đã mục nát và được thay bằng lớp mới, nhưng vỏ đao thì vẫn là cái cũ.

Quả nhiên, vỏ đao Tiểu Dạ tặng nàng cũng đã ở lại trong giấc mộng ấy rồi.

Hải Triều bảo Lục Uyển Anh rút đao ra, nàng chạm vào thân đao vẫn còn sáng loáng, rồi khẽ vuốt dọc theo lưỡi đao sắc lẹm. 

Lục Uyển Anh lẳng lặng thu đao vào bao: “Để ta cất giúp muội trước đã.”

Hải Triều gật đầu: “Lục tỷ tỷ, muội đói rồi.”

Lục Uyển Anh trút được gánh nặng trong lòng, vội đứng dậy đi ra ngoài hiên gọi người mang cháo loãng đến. Tỷ ấy cẩn thận đỡ Hải Triều dậy, đích thân bưng bát, bón cho nàng từng nửa thìa một.

Hải Triều nỗ lực nuốt xuống một cách vội vã và nhọc nhằn. 

Dù Lục Uyển Anh đã rất cẩn thận, nhưng vẫn có hai lần nàng suýt bị sặc, tỷ ấy phải dừng lại vỗ lưng vuốt ngực cho nàng dễ thở.

Ăn hết nửa bát cháo, lớp áo trong sau lưng Hải Triều đã ướt đẫm mồ hôi hột, trong bụng cũng cuồn cuộn khó chịu vô cùng. 

Lục Uyển Anh đặt bát xuống, dùng khăn thấm mồ hôi cho nàng: “Có phải do ăn nhanh quá nên không thoải mái không?”

Hải Triều lắc đầu, nhìn chằm chằm vào bát cháo: “Ăn thêm chút nữa.”

Lục Uyển Anh thấy nàng cố sức nuốt, trông mà xót xa: “Muội mới tỉnh lại không lâu, cứ thong thả thôi.”

Hải Triều chỉ lắc đầu, ra hiệu cho tỷ ấy tiếp tục bón, nàng đứt quãng ăn hết sạch cả bát cháo, bấy giờ mới nói lời cảm ơn rồi nằm xuống. Nàng dùng ngón tay ướm thử một vòng quanh cổ tay mình. Cổ tay vốn mạnh mẽ khỏe khoắn nay gầy rộc như một cành củi khô, đó là minh chứng cho việc nàng đã nằm liệt hơn một tháng trời, chỉ dựa vào nước gạo và canh sâm để giữ lại mạng tàn.

Nàng của hiện tại, ngay cả nhấc tay cũng thấy khó nhọc, nói gì đến việc cầm đao. Nghĩ đến đây, trong cơ thể nàng như có một ngọn lửa ngầm thiêu đốt, khiến xương cốt toàn thân vừa lạnh lẽo vừa đau nhức. 

Lục Uyển Anh dường như nhận ra điều gì, khẽ sờ trán nàng: “Cơ thể phải từ từ tẩm bổ, đừng nóng vội.”

Hải Triều gật đầu, nhắm mắt ngủ. Từ đầu đến cuối nàng không hề rơi một giọt nước mắt nào.

Cơ thể Hải Triều vẫn còn yếu ớt, một ngày nàng dành phần lớn thời gian để ngủ. Những lúc thực sự không ngủ được, nàng lại nhìn lên đỉnh màn thẩn thờ, trong đầu óc trống rỗng chẳng có gì, lại như thể chứa đầy những mảnh gốm vỡ vụn xáo trộn.

Cứ thế trôi qua hơn một tháng, tấm nệm dưới thân đã được thay bằng chiếu trúc, chăn đắp cũng đổi thành mền vải mỏng. Gió thổi qua khe cửa mang theo hơi thở ấm áp của mùa hạ, ban ngày cũng dần trở nên dài hơn.

Hoa râm bụt trên núi chắc đã nở rồi. Hải Triều nghĩ thầm khi được Lục Uyển Anh dìu đi dạo quanh sân, nhìn cây cỏ xanh tươi tốt tươi. Mỗi ngày nàng đều ép mình ăn thật nhiều, lúc không mệt thì bám tường tập đi, mệt rồi thì ngã đầu xuống là ngủ.

Dù vậy, cho đến khi nàng có thể một lần nữa cầm vững thanh đao, mùa hạ cũng đã trôi qua hơn nửa.

Sáng sớm, Lục Uyển Anh theo lệ thường đến xem nàng đã tỉnh chưa, lại thấy Hải Triều đã mặc chỉnh tề, bên hông đeo đao, trên bàn đặt một chiếc tay nải bằng vải xanh được gói ghém gọn gàng.

Lục Uyển Anh giật mình kinh ngạc.

Chẳng đợi tỷ ấy kịp mở lời hỏi, Hải Triều đã nói trước: “Lục tỷ tỷ, muội đang định đi tìm tỷ để nói chuyện, muội muốn về nhà một chuyến.”

Lục Uyển Anh đáp: “Ta đi cùng muội.”

Hải Triều lắc đầu: “Muội đi hai ba ngày rồi về ngay, Lục tỷ tỷ đừng đi theo muội chịu khổ làm gì, đợi lần sau muội lại đưa tỷ về quê ngắm biển.”

Suốt hai ba tháng qua, một tay Lục tỷ tỷ chăm sóc nàng, người vốn đã gầy nay lại càng thêm héo hon, đường về Hợp Phố xóc nảy mệt nhọc, e là tỷ ấy không chịu đựng nổi.

Lục Uyển Anh không cố chấp thêm, cũng chẳng hỏi nàng về đó làm gì, chỉ dặn dò nàng đi đường cẩn thận, rồi lại lấy ra một đống chai lọ lớn nhỏ: “Đây là những viên thuốc ta lúc rảnh rỗi tự tay điều chế, muội cứ mang theo bên người để phòng thân.”

Hải Triều cất thuốc vào tay nải, rồi nhờ người hầu trong phủ Thứ sử thông báo để nàng tới chào từ biệt Đỗ thứ sử.

Đỗ thứ sử đợi nàng trong thư phòng, thấy chiếc túi vải vắt ngang cánh tay nàng, bàn tay đang cầm bút của ông khựng lại.

“Đỗ thứ sử.” Hải Triều tiến lên hành lễ.

Nhìn những nếp hằn trên gương mặt và mái đầu bạc trắng của lão nhân, nàng bỗng cảm thấy ông còn già nua hơn nhiều so với lúc nàng mang thư từ hôn đến tìm.

Đỗ thứ sử đứng dậy nói: “Không cần đa lễ. Nghe nói mấy ngày trước Vọng tiểu nương tử bị nhiễm phong hàn, hiện tại đã khỏe hẳn chưa?”

Hải Triều gật đầu: “Đa tạ Đỗ thứ sử quan tâm.”

Đỗ thứ sử bảo thư đồng chuẩn bị chỗ ngồi, dâng trà.

Hải Triều ngồi xuống: “Trà thì không cần đâu, dân nữ phải đi ngay bây giờ.”

Đỗ thứ sử liếc nhìn thanh bội đao nàng đặt bên cạnh sập: “Lão phu mạn phép hỏi một câu, Vọng tiểu nương tử định đi đâu?”

Hải Triều: “Dân nữ muốn về Hợp Phố một chuyến để lấy vài thứ, không biết Lục tỷ tỷ có thể ở lại đây làm phiền ngài thêm vài ngày nữa được không?”

Sắc mặt Đỗ thứ sử hơi giãn ra: “Bệnh của Vọng tiểu nương tử chưa dứt điểm, chi bằng cứ ở lại hàn xá cùng Lục nương tử. Cần lấy vật gì, lão phu phái một người đi là được.”

Hải Triều lắc đầu: “Vật đó chỉ có thể tự tay dân nữ đi lấy.”

Nàng lại hành lễ thật sâu: “Thời gian qua, đa tạ thứ sử đã hết lòng chăm sóc.”

Đôi môi Đỗ thứ sử run rẩy, ông khó khăn mở lời: “Tử Minh ủy thác lão phu chăm sóc ngươi cho tốt, vậy mà lại để ngươi gặp bất trắc trên biển, thực là lỗi của lão phu.”

Hải Triều cụp mắt, nhìn tờ giấy đay trên án đang bị gió thổi lật nhè nhẹ.

Trong mấy tháng nàng dưỡng bệnh, Đỗ thứ sử đã mấy lần dẫn đại phu đến thăm nàng, nhưng lần nào ông cũng chỉ hỏi han tình hình sức khỏe rồi vội vã rời đi, như thể sợ rằng nếu đi chậm một chút sẽ bị nàng bám lấy truy hỏi điều gì đó.

Cả hai đều ngầm hiểu mà không ai nhắc đến Lương Dạ lấy một lần. Nay ông chủ động nhắc tới, rõ ràng là hiểu rõ chuyện này không thể trốn tránh mãi được, biết rằng hôm nay nàng nhất định sẽ hỏi.

Hải Triều nhìn vào ánh lệ lấp loáng trong đôi mắt đục ngầu của lão nhân, vào thẳng vấn đề: “Đỗ thứ sử, kẻ hại chết A Dạ là ai?”

Nàng nói câu này gần như nhấn mạnh từng chữ, khi thốt ra chữ “chết”, trái tim nàng như có thứ gì đó đột ngột sụp đổ, khiến nàng choáng váng mặt mày, ngồi không vững phải vội vịn vào thành ghế mới không ngã quỵ.

Nhưng nàng không thể không nói. Chỉ khi nói ra, tự tay đập nát chính mình một lần, nàng mới có đủ sức để chống chọi với những cơn sóng gió sắp tới.

Đỗ thứ sử trầm tư hồi lâu, lắc đầu: “Lão phu cũng không biết.”

Hải Triều cau mày, lời này dĩ nhiên nàng không tin: “A Dạ đã viết thư nhờ thứ sử chăm sóc ta, lẽ nào huynh ấy lại không nói gì.”

Đỗ thứ sử thở dài bất lực: “Không phải lão phu vì muốn bảo toàn bản thân mà lừa gạt tiểu nương tử… Tiểu nương tử đợi một lát.”

Nói đoạn, ông lão đứng dậy, lấy từ trên giá sách bên tường xuống một chiếc hộp tre, mở nắp ra: “Tất cả thư từ Tử Minh gửi về trong ba năm ở Trường An đều nằm cả ở đây.”

Ông lão cầm lấy hai lá thư nằm trên cùng đưa cho Hải Triều, đôi bàn tay khẽ run rẩy: “Đây là thư cuối cùng Tử Minh viết lúc sinh thời, nó chỉ kịp vội vã gửi đi, không lâu sau thì mất tích…”

Hải Triều đột ngột ngẩng đầu, trong mắt lóe lên tia sáng: “Huynh ấy chỉ là mất tích thôi phải không?”

Đỗ thứ sử dời tầm mắt, chậm rãi lắc đầu: “Tử Minh đã bị sát hại rồi. Tuy ở Trường An rất ít người biết chuyện này, nhưng lão phu đã nhận được tin tức xác thực.”

Ông khựng lại một chút: “Lão phu không bao giờ lấy chuyện sống chết của Tử Minh ra làm trò đùa… Vọng tiểu nương tử hãy nén đau thương.”

Hải Triều giống như một kẻ sắp chết đuối vừa khó khăn lắm mới ngoi được lên mặt nước, lại bị ấn xuống lòng đại dương, tim phổi dường như đều bị nước biển lạnh lẽo tràn ngập.

Nàng đón lấy lá thư, nhìn thấy nét chữ quen thuộc, nước mắt không tự chủ được trào ra. Nàng vội dùng mu bàn tay lau đi, chẳng ngờ càng lau nước mắt lại càng rơi nhiều hơn.

Đây là lần đầu tiên nàng khóc kể từ khi tỉnh dậy và nghe tin Lương Dạ qua đời, một khi đã khóc thì như vỡ đê, không tài nào ngăn lại được.

Thư rất ngắn, chỉ có thể coi là một tờ giấy nhắn gửi. Giấy viết là loại giấy đay kém chất lượng, hơi thô ráp, nét chữ cũng nguệch ngoạc hơn hẳn ngày thường, thậm chí có nhiều chỗ nét bút bị đứt quãng, mực không đều.

Với tính cách của Lương Dạ, viết thư cho bậc tiền bối tôn kính không thể nào sơ sài như vậy, có thể thấy lá thư này được viết trong lúc vội vàng, tình thế đã đến mức vô cùng cấp bách.

Hải Triều khó khăn lắm mới kìm được nước mắt để nhìn xuống lá thư, trong lúc ánh mắt đảo qua, nàng trông thấy bốn chữ “Ngô thê Hải Triều”, nước mắt lại một lần nữa lã chã rơi xuống.

Nàng không kịp dời lá thư đi, giọt lệ rơi thẳng xuống mặt giấy khiến vết mực tức khắc nhòe ra. Nàng cuống cuồng dùng tay áo lau đi, nhưng càng lau lại càng khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn.

Đỗ thứ sử cũng đỏ hoe mắt: “Vọng tiểu nương tử hãy bớt đau buồn. Thân thể ngươi còn chưa hồi phục, nếu đau buồn quá độ, Tử Minh dưới suối vàng biết được cũng khó lòng yên nghỉ.”

Hải Triều muốn nhìn rõ từng nét chữ trên thư, nhưng trước mắt chỉ là một màn lệ mờ ảo. Nàng lau nước mắt mấy lần, nhưng những con chữ đó cứ không sao lọt vào tim nổi, nàng chỉ có thể đọc lướt qua một lượt đại khái.

Nàng thấy hắn hết lần này đến lần khác khẩn cầu ân sư trông nom nàng, và nhất thiết phải giấu kín tin nếu hắn chết với nàng.

Đỗ thứ sử lặng lẽ đợi nàng xem đến cuối tờ giấy mới đưa cho nàng lá thư còn lại.

Lá thư này dài hơn nhiều, nét chữ cũng đoan chính. Hải Triều đọc rất chậm, cứ xem được vài chữ lại phải dừng lại một nhịp để trấn tĩnh.

Đỗ thứ sử nói: “Tử Minh chỉ nhắc đến trong thư này rằng mình đang điều tra một vụ án oan chưa có lời giải, e là sẽ bị cuốn vào vòng xoáy thị phi. Để không liên lụy đến nương tử, nó mới gửi thư từ hôn cho ngươi. Nếu ngươi có đến hỏi, cứ bảo nó là kẻ tham phú phụ bần, trèo cao đuổi ngọc, chỉ là nó không hề nhắc tới việc mình rốt cuộc đã đắc tội với ai. Xưa nay tính tình Tử Minh vẫn vậy, chuyện gì cũng giữ kín trong lòng.”

Hải Triều chật vật đọc hết hai lá thư, bên trong quả nhiên không hề có một chữ nào nhắc tới kẻ muốn hại hắn, chỉ có những lời cầu khẩn ân sư trông nom nàng lặp đi lặp lại.

Nàng đọc lại từ đầu đến cuối một lần nữa, đặt hai lá thư xuống, rồi nhìn vào những bức thư khác trong hộp tre: “Huynh ấy chưa từng nói một lần nào về việc mình đang điều tra vụ án gì sao?”

Đỗ thứ sử lắc đầu, nở một nụ cười khổ: “Tử Minh gửi thư về chỉ để báo bình an thôi. Nếu không phải vì muốn gửi gắm tiểu nương tử cho lão phu, e là đến cuối cùng nó cũng chưa chắc đã để lại nửa lời.”

Hải Triều nhìn vào hộp tre.

Đỗ thứ sử nói: “Tiểu nương tử nếu không tin, có thể xem qua từng bức một.”

Hải Triều lắc đầu. Nhìn những bức thư này rồi tưởng tượng ra dáng vẻ hắn lúc viết thư, đối với nàng chẳng khác nào chịu cực hình lăng trì.

Một khi Đỗ thứ sử đã đưa ra cho nàng xem tùy ý, vậy thì trong những bức thư này chắc chắn không có thứ nàng muốn tìm.

Nàng ngước mắt nhìn Đỗ thứ sử, mím môi thật chặt: “Cho dù A Dạ không nói gì, chẳng lẽ thứ sử cũng không nghe thấy phong thanh gì sao?”

Đỗ thứ sử ngẩn người, rõ ràng là không lường trước được nàng sẽ hỏi như vậy.

Chòm râu trắng của ông run lên: “Lão phu rời xa kinh sư đã nhiều năm, mắt nhắm tai ngơ, tất nhiên là không được rõ.”

Hải Triều không tin, vẻ hoảng loạn thoáng qua trong mắt ông khi nãy đã bán đứng ông. Nàng đi thẳng vào vấn đề: “Thứ sử vừa nói, chuyện của A Dạ ngay cả ở Trường An cũng chẳng mấy người hay biết, vậy mà ngài lại nhận được tin tức nhanh đến thế. Sao ngài có thể nói mình không biết gì cho được?”

Đỗ thứ sử bị nàng nói cho á khẩu, nhưng trên mặt không hề có vẻ giận dữ, chỉ có nỗi bi thương: “Vọng tiểu nương tử, ngươi có biết tại sao Tử Minh lại không tiết lộ nửa lời với lão phu không?”

“Huynh ấy sợ liên lụy đến thứ sử.”

“Không phải.” Đỗ thứ sử nói, “Là nó không tin ta.”

Hải Triều ngỡ ngàng: “Sao có thể chứ, ngài là ân sư của A Dạ, người huynh ấy tin tưởng nhất chính là ngài cơ mà.”

Đỗ thứ sử xua tay: “Lão phu và Tử Minh quen biết đã nhiều năm, tính tình của nó lão phu cũng hiểu đôi phần. Nó không tin lão phu là bởi sợ lão phu sẽ lấy chuyện này ra để thêu dệt, coi đó như bậc thang để quay lại triều đình. Nó sợ lão phu sẽ lợi dụng ngươi để đạt được mục đích của mình.”

Những lời này gần như là rút ruột rút gan ra mà nói rồi, Hải Triều nhất thời không biết nói sao cho phải. Lương Dạ sống trên đời này quả thực chẳng tin một ai, có lẽ ngoại trừ nàng. Nghĩ đến đây, trái tim nàng lại nhói đau.

Đỗ thứ sử tiếp lời: “Vọng tiểu nương tử, Tử Minh dụng tâm lương khổ, cũng chỉ vì muốn ngươi đứng ngoài vòng thị phi. Lúc trước nó viết thư từ hôn, cũng là vì biết tính tình ngươi cương trực lại trọng tình trọng nghĩa, nếu biết nó bị người ta hại chết, ngươi nhất định sẽ không chịu để yên cho đến khi báo được thù.”

Hải Triều nhếch mép: “Nhưng sớm muộn gì ta cũng sẽ biết thôi.”

“Trường An cách nơi này hàng nghìn dặm, ngay cả chỗ lão phu đây cũng vừa mới nhận được tin.” Đỗ thứ sử nói, “Đợi đến khi ngươi hay tin Tử Minh không còn trên đời, chẳng biết đã là năm nào tháng nào rồi. Hơn nữa nó hiểu tính ngươi, chỉ cần ngươi nhận được thư từ hôn, đau khổ một thời gian rồi cũng sẽ dần buông bỏ được. Nhiều năm sau dù có nghe tin nó qua đời, ngươi cũng chỉ coi như thế gian này bớt đi một kẻ bạc tình mà thôi…”

Ông lão nghẹn ngào, không nói tiếp được nữa.

Hải Triều cười nhạt: “Huynh ấy nghĩ cho ta thật chu đáo.”

Đỗ thứ sử lại thở dài một tiếng thật sâu: “Ngươi chớ nên oán hận Tử Minh, nó là toàn tâm toàn ý lo liệu cho tương lai của ngươi.”

Hải Triều im lặng, nàng chỉ mân mê tờ giấy thư thô ráp, hồi lâu sau mới ngẩng đầu lên, ánh mắt rực sáng nhìn Đỗ thứ sử: “A Dạ là Thám hoa lang, lại còn làm quan. Những kẻ có thể tùy tiện ra tay với một Thám hoa lang thì trong kinh thành Trường An cũng chẳng có mấy người đâu nhỉ? Thứ sử không muốn nói cho dân nữ biết, dân nữ cũng sẽ không liên lụy đến ngài, tự ta sẽ đi Trường An tra cho ra lẽ!”

Đỗ thứ sử bất lực: “Vậy lão phu nói thẳng luôn, kẻ dám hạ độc thủ với Thám hoa lang, với mệnh quan triều đình thì ngay cả ở Trường An cũng chỉ có vài người. Ngươi muốn lay chuyển những kẻ đó chẳng khác nào châu chấu đá xe, lấy trứng chọi đá. Cho dù tiểu nương tử có tra ra được kẻ thủ ác thì định làm gì? Lẽ nào định đánh trống Đăng Văn để đòi lại công lý sao?”

“Dân kiện quan vốn đã khó tựa lên trời, huống hồ kẻ hại Tử Minh nếu không phải hàng thân vương quý tộc thì cũng là bậc quyền cao chức trọng. Dẫu cho chân tướng có phơi bày, phần lớn chúng cũng sẽ dùng một tên đầy tớ hay một viên tiểu lại ra thế mạng, cùng lắm là bị khiển trách một câu ‘dạy bảo thuộc hạ không nghiêm’. Dù có bị giáng chức tạm thời để xoa dịu dân chúng, nhưng chỉ cần thánh quyến vẫn còn, chẳng quá hai ba năm là lại có thể phục chức. Mà tiểu nương tử ngươi thì kết cục sẽ là tan xương nát thịt. Đổi mạng như vậy, có đáng không?”

Ông xót xa nhìn cô gái bướng bỉnh trước mặt: “Vọng tiểu nương tử, Tử Minh khổ tâm gây dựng cốt để ngươi đứng ngoài cuộc, ngươi chớ nên phụ tâm ý của nó. Nó dưới suối vàng có linh thiêng cũng không hy vọng ngươi dấn thân vào hiểm cảnh để báo thù cho nó… Ngươi có tâm nguyện gì cứ việc nói với lão phu, lão phu nhất định sẽ dốc hết sức giúp đỡ.”

Hải Triều lắc đầu, đôi mắt nàng như có ngọn lửa bùng cháy: “Ta báo thù không phải vì huynh ấy, mà là vì chính bản thân mình. Chỉ có báo thù cho huynh ấy, chuyện này mới coi như kết thúc, ta mới có thể tiếp tục sống cuộc đời của mình, đi làm những việc mình muốn.”

Nàng vô thức nắm chặt lấy chuôi đao bên mình: “Thứ sử yên tâm, ta không ngốc đến mức đó, ta biết đánh trống Đăng Văn cũng vô dụng. Ta có cách của riêng mình, chỉ xem thứ sử có chịu giúp ta hay không thôi.”

Kể từ khi cha mẹ lần lượt vì ngọc trai cống phẩm mà chôn thây đáy biển, nàng đã chẳng còn tin vào kẻ gọi là “Thiên tử” cao cao tại thượng kia có thể ban cho nàng công lý, lại càng không tin ông trời có mắt.

Công lý của nàng, nàng phải tự mình đoạt lấy.

Đỗ thứ sử cúi đầu trăn trở hồi lâu mới thở dài một tiếng: “Năm ấy Tử Minh một bước thành danh, được Thiên tử đích thân chấm là Thám hoa lang. Trong triều không ít kẻ nảy ra ý định ‘chọn rể ngay dưới bảng vàng’, có tin đồn ngay cả thiên kim của Lư Thị trung cũng nhất kiến chung tình với Tử Minh tại tiệc Hạnh Hoa bên hồ Khúc Giang. Không lâu sau đó, Lư Thị trung mời Tử Minh tới phủ dự tiệc, nhưng nó lại cáo bệnh từ chối.”

“Đến lúc tuyển quan, Tử Minh vốn có tư cách được bổ nhiệm với học vị Trạng nguyên, nhưng nó lại không vào hàng thanh lưu*, trái lại còn đến Bộ Hình làm một chức tiểu lại mọn. Rõ ràng đó là do đã đắc tội với Lư Thị trung.”

*Quan văn thanh cao.

Hóa ra chuyện tiểu thư nhà Thị trung nhìn trúng A Dạ không hoàn toàn là giả. Trong lòng Hải Triều dâng lên nỗi trống trải vô định. Nếu khi ấy hắn không từ chối vị thiên kim nọ, liệu những chuyện về sau có xảy ra không?

Nàng thà rằng hắn thực sự là một kẻ phụ bạc ham vinh hoa phú quý, ít nhất như thế hắn vẫn còn sống.

Đỗ thứ sử thấy trong đôi mắt đỏ hoe của nàng ngập tràn vẻ hối hận, lòng càng thêm không nỡ: “Vọng tiểu nương tử chớ nên tự trách, Tử Minh vốn không phải hạng người tham quyền quý, cho dù không có ngươi, nó cũng sẽ không nhận hôn sự này.”

Ông day day khóe mắt: “Tử Minh dù sao vẫn còn trẻ tuổi nóng tính. Dù không muốn cuộc hôn nhân này cũng có thể hành xử khéo léo hơn một chút. Người tán thưởng nó không ít, nếu nhờ người đứng ra giảng hòa đôi bên, chưa chắc đã đến nông nỗi này.”

Tim Hải Triều thắt lại: “Vị Lư Thị trung đó, có phải có quan hệ gì với Quý phi không?”

Đỗ thứ sử hơi bất ngờ: “Lư Thị trung là biểu huynh của Quý phi. Quý phi và Lư thị xưa nay vốn thân thiết, Lư Thị trung cũng nhờ bóng Quý phi mà rất được thánh quyến.”

“Hóa ra là vậy.” Hải Triều lẩm bẩm.

A Dạ tuy bên trong cố chấp nhưng không phải hạng người không thông nhân tình thế thái. Hắn đến cửa nhà họ Lư cũng chẳng buồn đặt chân tới, là vì cha mẹ nàng năm xưa bị ép buộc phải mạo hiểm xuống biển mò châu giữa mùa sóng dữ, tất cả cũng chỉ vì đại thọ của Quý phi cần những viên trân châu lớn hơn, đẹp hơn.

Đặc biệt là lúc đó A nương nàng còn đang bệnh, quan lại chê trân châu dân chài nộp lên không đủ lớn, sắc nước không đủ kỳ tuyệt, nên đã năm lần bảy lượt hối thúc ép buộc, thậm chí còn ép cả những đứa trẻ mười tuổi, những cụ già tóc bạc trắng xuống nước.

A nương nàng đành kéo lê thân xác bệnh tật, lặn xuống dưới vách Đoạn Vọng giữa mùa thu buốt giá, hái được một viên trân châu màu hồng to cỡ móng tay cái, lúc đó mới cứu được cả làng.

A Dạ vì nàng mới trở mặt với Lư Thị trung, dù cho nàng thực chất chẳng hề hay biết gì.

“Vậy kẻ hại A Dạ chính là Lư Thị trung sao?” Hải Triều hỏi.

“Chưa hẳn.” Đỗ thứ sử đáp, “Với thân phận của Lư Thị trung, không cần đích thân làm khó một tân khoa Tiến sĩ. Đảng cánh của ông ta đông đảo, tự khắc sẽ có kẻ chủ động muốn ‘chia sẻ nỗi lo’ với ông ta.”

Ông khựng lại: “Huống hồ kẻ đứng sau đó chưa chắc đã thuộc Lư đảng, thậm chí là kẻ thù của Lư đảng mượn gió bẻ măng cũng không chừng. Nếu muốn gây khó dễ cho Tử Minh, hoàn toàn có thể không cho nó làm quan, tại sao lại sắp xếp nó vào Bộ Hình quản lý văn thư? Liệu đằng sau đó còn mưu đồ gì khác không? Mọi chuyện trong đó rễ cái rễ con chằng chịt, ngay cả những kẻ lăn lộn trong chốn ấy vài mươi năm cũng chưa chắc đã tra rõ được.”

Hải Triều mới nghe ông nói vậy đã thấy đầu óc căng phồng, cảm giác như đang đứng giữa bụi gai, bốn bề đều không thấy lối ra.

Đỗ thứ sử khuyên nhủ: “Vọng tiểu nương tử, buông bỏ đi.”

Hải Triều không một chút do dự: “Ta nhất định phải tìm ra kẻ hại huynh ấy, thay huynh ấy báo thù!”

Nàng bỗng nhớ ra một việc: “Thứ sử có biết người nào tên là Lâm Hạc Niên không? Là người của Quốc Tử Giám.”

Đỗ thứ sử hơi bất ngờ: “Người này là Trực giảng ở Quốc Tử Giám. Tử Minh từng nhắc trong thư rằng khi ở Trường An, Lâm Trực giảng hết sức quan tâm đến nó, biết nó phải tá túc trong ở chùa chiền, mùa đông giá rét, hắn đã cho nó thuê căn phòng trống trong nhà với giá rẻ. Sao tiểu nương tử lại biết người này? Có phải Tử Minh từng nhắc không?”

Hải Triều không trả lời, chỉ hỏi tiếp: “Sứ quân có quen người đó không? Hắn ta có thuộc Lư đảng không?”

Đỗ thứ sử đáp: “Người này có phần cậy tài khinh vật, không được lòng cấp trên. Tuy xuất thân Tiến sĩ nhưng con đường hoạn lộ suốt nhiều năm không tiến triển chút nào, cũng không nghe nói hắn ta có qua lại gì với Lư đảng.”

Hải Triều biết không thể khai thác được gì thêm từ Đỗ thứ sử nên cũng không hỏi nữa.

Đỗ thứ sử hỏi: “Vọng tiểu nương tử có dự tính gì không?”

Hải Triều nhìn vào đôi mắt đỏ hoe của ông. Nàng có thể tin ông không?

Nếu trước khi lâm chung A Dạ đã gửi gắm ông chăm sóc nàng, hẳn người này cũng đáng tin. Nàng cũng chỉ còn cách tin tưởng ông, vì nếu không có ông giúp sức, nàng tuyệt đối không thể làm được việc muốn làm.

Nàng đem toàn bộ kế hoạch nói ra. Đỗ thứ sử nghe xong thì sững sờ kinh hãi, nửa ngày không nói nên lời.

Hải Triều tiếp: “Bất luận thành hay bại, dân nữ sẽ một mình gánh vác, không để liên lụy tới Thứ sử.”

Đỗ thứ sử hoàn hồn, cười khổ: “Vọng tiểu nương tử đừng nói lời khách sáo như vậy. Lão phu cũng là kẻ gần đất xa trời, dưới gối vốn có một trai một gái, con trai yểu mệnh, con gái mấy năm trước cũng mất vì khó sinh. Trên cõi đời này lão phu chẳng còn gì để luyến tiếc nữa rồi. Tử Minh chẳng khác nào con đẻ của ta, nếu thực sự có thể thay nó báo thù rửa hận, lão phu tiếc gì cái thân già này. Chỉ sợ phụ sự ủy thác của Tử Minh, mai sau xuống suối vàng không còn mặt mũi nào nhìn nó.”

Ông không còn giữ kẽ nữa, bắt đầu phân tích rành mạch các mối quan hệ chằng chịt giữa các phe phái trong triều cho nàng nghe. Mãi đến gần trưa, Hải Triều mới đứng dậy cáo từ.

Đỗ thứ sử tiễn nàng tận ra ngoài cửa, nhìn nàng lên xe ngựa, dặn dò: “Vọng tiểu nương tử vạn phần bảo trọng.”

Hải Triều sống mũi cay cay: “Thứ sử yên tâm, ta sẽ hành sự cẩn thận, không để mất mạng đâu.”

Nàng kiên định nhìn ông lão: “Ta đã hứa với A Dạ sẽ sống thật tốt, nhất định sẽ làm được.”

Bức rèm che hạ xuống, xe ngựa lọc cọc lăn bánh rời đi. Đỗ thứ sử đứng chôn chân tại chỗ nhìn theo một lát. 

Kế sách của Vọng tiểu nương tử thực sự vô cùng gian nan và nguy hiểm, chỉ cần một bước đi sai, e rằng sẽ trắng tay, vạn kiếp bất phục. Thế nhưng trong đôi mắt kiên quyết của nàng có một thứ gì đó thật khác biệt, khiến ông bất giác tin rằng nàng sẽ thành công.

Sau nhiều ngày, Hải Triều lại trở về bên bờ biển.

Lúc về tới làng đã là buổi hoàng hôn. Ngôi làng ven biển yên bình khói bếp tỏa nghi ngút. Tiếng ngựa xe xôn xao khiến dân làng đồng loạt chạy ra khỏi nhà xem xét, thấy người bước xuống xe là Hải Triều, họ lập tức vây quanh.

Hải Triều nhìn từng gương mặt quen thuộc, nghe họ ríu rít hỏi han đủ điều, không khỏi nhớ về cảnh tượng lúc nàng và Lương Dạ thành thân, tâm trí lại thoáng thẫn thờ.

Lúc La Tam thúc đi sắp xếp chỗ nghỉ cho phu xe và gia nhân của phủ Thứ sử, La Tam thẩm nắm lấy tay nàng: “Đi đường cả ngày đói lả rồi phải không? Sang nhà thẩm ăn cơm chiều đi, bảo Tam thúc con thịt một con gà.”

Hải Triều không khách sáo với bà, thốt ra hỏi: “Sao không thấy A Cốc đâu ạ?”

Tam thẩm nhướn mày: “A Cốc? A Cốc theo thuyền lớn ra khơi rồi, chẳng biết bao giờ mới về, sao tự dưng lại nhắc đến nó?”

Hải Triều bấy giờ mới sực nhớ ra việc A Cốc đột ngột hồi hương cũng là chuyện xảy ra trong bí cảnh, lòng nàng lại hẫng đi một nhịp: “Chỉ là con chợt nhớ ra thuyền đi biển cũng đến lúc cập bến rồi.”

Tam thẩm cũng không để bụng, cứ thế kéo nàng sang một bên nghỉ ngơi, rồi hỏi han tỉ mỉ về những ngày ở phủ Thứ sử, vành mắt bà đỏ hoe: “Lúc tìm thấy con bên bờ biển, thẩm sợ tới mức hồn xiêu phách tán. Cái con bé này, sao đêm hôm lại ra biển một mình, ngộ nhỡ có bề gì thì thẩm biết ăn nói sao với cha mẹ con dưới suối vàng?”

“Con cứ hôn mê mãi không tỉnh, thẩm thấy cứ thế này không ổn, vội bảo Tam thúc lên huyện thuê xe lừa chạy thẳng tới Liêm Châu cầu xin Đỗ thứ sử. May mà thứ sử nhân nghĩa, vừa nghe con gặp chuyện đã mang theo đại phu giỏi nhất Liêm Châu đích thân tới đây, dùng một củ nhân sâm lớn chừng này nấu canh giữ mạng cho con, rồi lại đón con về phủ chạy chữa…”

Đây cũng là lần đầu Hải Triều nghe về những chuyện này, trong lòng không khỏi cảm kích vô cùng. Đỗ thứ sử đối với nàng thực sự đã tận tình tận nghĩa, nhưng việc nàng vào kinh báo thù khó tránh khỏi sẽ liên lụy đến ông. Không chỉ ông, mà một khi sơ suất, có khi còn liên lụy đến cả những người trước mắt này nữa.

Nàng nhất quyết báo thù cho Lương Dạ, liệu có quá ích kỷ không? A Dạ cũng mong nàng được sống tốt cơ mà…

Đang mải suy nghĩ, nàng lại nghe Tam thẩm nói: “Hải Triều nhà ta bản lĩnh, dung mạo thế này, thiếu gì nam nhân tốt, kẻ nào mắt mù mới không thấy được cái tốt của con…”

Hải Triều ngẩn ra, rồi lập tức hiểu ngay. Họ không biết Lương Dạ gặp nạn, vẫn tưởng hắn là hạng phụ bạc ham vinh hoa phú quý. Họ chắc mẩm rằng nàng chèo thuyền ra biển là vì bị Lương Dạ từ hôn nên mới nghĩ quẩn tự sát.

Nàng há miệng định giải thích, nhưng lời chưa thốt ra, hai hàng nước mắt đã rơi trước.

Tam thẩm hoảng hồn, vội cuống quýt: “Đừng khóc, đừng khóc, đều tại cái miệng già này không biết giữ lời, cứ bô bô chẳng nể nang gì cả!”

Hải Triều vội quẹt nước mắt an ủi bà.

Ý niệm báo thù trong lòng nàng lại bùng lên mãnh liệt, như ngọn lửa thiêu rụi mọi do dự. Lương Dạ chết không minh bạch ở Trường An, đến xương cốt cũng chẳng tìm thấy, nếu ngay cả nàng cũng coi như không có chuyện gì xảy ra, thì còn ai nhớ đến hắn nữa đây?

Một lát sau, Tam thúc xách con gà đã làm sạch tới đun nước vặt lông. Dân làng mang hoa quả, thịt gác bếp, trứng gà sang biếu, chẳng mấy chốc một mâm “tiệc đón gió” đã được dọn ra.

Dùng xong bữa tối, trời cũng đã sập tối hẳn. Hải Triều đứng dậy cáo từ về nhà, Tam thẩm níu nàng lại: “Nhà con bấy lâu không có người ở, trong phòng đầy bụi bặm, đêm nay cứ ở lại chỗ thẩm đi, sáng mai trời sáng rồi hẵng về dọn dẹp.”

Hải Triều biết Tam thẩm sợ nàng ở một mình lại nghĩ quẩn, bèn giả vờ thoải mái cười nói: “Trong lòng cứ bồn chồn, không về xem qua một chút thì đêm ngủ chẳng yên.”

Tam thẩm vẫn còn do dự, Hải Triều bèn nói: “Thẩm yên tâm, con không làm chuyện dại dột đâu. Lần trước ra biển là để hái ngọc, chứ không phải cố ý tìm cái chết.”

Bị nàng nói trúng tim đen, Tam thẩm ngượng ngùng: “Thẩm đương nhiên biết con không phải đứa trẻ ngốc nghếch như vậy… Thôi con cứ về xem trước, nếu nhà cửa không ở được thì quay lại đây.”

Hải Triều gật đầu đồng ý, chào tạm biệt dân làng rồi cầm bó đuốc nhựa thông trở về ngôi nhà nhỏ bên bờ biển của mình.

Mấy ngày trước trời mưa liên miên, vừa mở cửa ra đã thấy một luồng hơi ẩm ướt ập vào mặt. Hải Triều bước vào, ánh đuốc soi rõ cảnh tượng lộn xộn trong căn nhà nhỏ. Nàng lại sững người ra một lúc, rồi mới chợt nhớ ra, chưa từng có ai trở về thu dọn nhà cửa cho nàng, cũng chẳng có ai trang trí căn nhà nhỏ này thành phòng tân hôn cả.

Nàng cắm bó đuốc xuống bãi cát trước cửa, khép cửa lại rồi ngồi lặng yên trong bóng tối một hồi lâu. Bấy giờ nàng mới đứng dậy châm dầu vào đèn, dùng nước mưa tích trong lu ngoài cửa lau qua bếp núc và đồ đạc, rửa mặt súc miệng xong xuôi rồi trải xấp chăn chiếu đang cuộn tròn ra, cứ thế mặc nguyên quần áo mà nằm xuống.

Nàng ngủ một mạch đến nửa đêm thì thức giấc, đi tới bên cửa sổ ngắm trăng, ước chừng đã qua giờ Tý. Phía xóm làng đen kịt một màu, tiếng gà chó đều im bặt, dân làng chắc hẳn đã ngủ say cả rồi.

Nàng xỏ đôi giày cỏ vào chân, đẩy cửa bước về phía bờ biển. Nàng nhất quyết đòi về nhà ở không chỉ vì lòng luôn vương vấn, mà còn để giấu dân làng việc mình sẽ ra khơi giữa đêm khuya.

Lúc được cứu, chỉ có mình nàng bị sóng đánh dạt vào bờ, còn con thuyền thì không tìm thấy đâu, chắc đã tan xác giữa phong ba bão táp rồi. May thay trong làng không thiếu thuyền, chiếc thuyền mò ngọc của nhà họ La đang được buộc vào một gốc cây lớn gần đó.

Hải Triều cởi dây thừng, đẩy thuyền xuống nước rồi dùng sào trúc ra sức chống ra xa. Trên mặt biển gió lặng sóng êm, vầng trăng tròn vành vạnh như chiếc đĩa bạc treo lơ lửng giữa tầng không, rát xuống lòng biển muôn vàn vụn bạc lấp lánh. Thi thoảng lại có bóng đen của những đàn cá lướt qua mạn thuyền, nhưng Hải Triều chẳng hề để mắt tới, nàng chỉ mải miết vung sào chèo đi thật mạnh.

Đêm nay là đêm rằm trăng tròn, những con trai già có linh tính sẽ bò lên ghềnh đá để phơi ngọc. Tương truyền, ngay cả những con trai ngàn năm thường ngày ẩn náu ở đáy sâu nhất dưới vách Đoạn Vọng cũng sẽ chui ra khỏi khe đá, chỉ có loại trân châu ấy mới đủ tư cách trở thành cống phẩm quý giá, xuất hiện trên trâm cài của Quý phi. 

Đó là lý do vì sao nàng phải gấp rút trở về trước đêm nay.

Chẳng mấy chốc, đường nét hùng vĩ, lởm chởm của vách Đoạn Vọng đã hiện ra trước mắt. Hải Triều thu sào, cởi bỏ áo ngoài rồi gieo mình xuống nước. Nàng không vội lặn sâu ngay, vì đã hơn hai tháng không xuống nước, nàng sợ khả năng bơi lội không còn được như trước nên bèn bơi một vòng quanh thuyền. 

Giữa đêm hạ chí, nước biển có hơi ấm.

Kể từ khi có ký ức đến nay, đây là lần đầu tiên nàng rời xa biển lâu đến thế. Nàng bơi lội giữa làn nước, cảm giác như đang sà vào một vòng tay vừa quen thuộc vừa dịu dàng. Nàng hít một hơi thật sâu, nắm chặt thanh đao đào ngọc rồi lặn xuống đáy sâu, dưới vách Đoạn Vọng thấp thoáng những đốm sáng lập lòe.

Trân châu ở vùng nước nông đa phần đều nhỏ, sắc nhạt, dáng lại không tròn. Càng lặn sâu xuống, những viên trân châu lớn với màu sắc tuyệt đẹp bắt đầu xuất hiện nhiều hơn. Thế nhưng vẫn chưa đủ lớn, chưa đủ tốt. Thứ nàng muốn tìm là một viên trân quý lạ thường, khiến vạn người phải kinh ngạc, đủ sức ngự trị trên trâm cài của Quý phi và phải đẹp hơn cả viên trân châu năm xưa nương nàng từng hái được. Chỉ có như thế, nàng mới có cơ hội dâng lên Quân vương trong buổi đại triều hội ngày Tết Nguyên Đán.

Hải Triều ước chừng hơi trong phổi chỉ còn lại một nửa, kinh nghiệm đào ngọc nhiều năm bảo nàng rằng đã đến lúc phải ngoi lên, nhất là khi thể lực của nàng giờ đã kém đi nhiều, lại bỏ bơi lâu ngày. 

Nhưng nàng vẫn chưa tìm thấy viên trân châu hằng mong ước, nếu bỏ lỡ đêm nay, nàng sẽ phải đợi đến tháng sau, nhưng thuyền cống từ Quảng Châu xuất phát sẽ không chờ nàng lâu đến thế.

Ngay lúc này, mắt nàng bắt được một tia sáng khó lòng nhận ra. Chỉ cần lặn xuống thêm một chút nữa thôi, một chút xíu nữa thôi. Nàng dùng sức đạp chân, một lần nữa hướng về phía vực sâu thăm thẳm.

Nàng chưa bao giờ bơi nhanh và điêu luyện đến thế, cứ như thể đã hóa thành một loài cá, cảm giác sảng khoái chưa từng có tràn ngập tâm trí. Nàng chính là một loài cá.

Hải Triều chợt giảm tốc độ, nàng đột nhiên bàng hoàng nhận ra dưỡng khí trong phổi không biết đã biến mất từ bao giờ. Nàng thậm chí còn quên mất rằng mình cần phải thở, động tác bơi lội đã trở thành một thứ bản năng ngấm vào xương tủy, dường như chẳng tốn chút sức lực nào.

Nàng đã chết rồi sao? Hay nơi này vốn dĩ vẫn là bí cảnh?

Nàng vui sướng đến mức suýt phát khóc, liên tục lộn mấy vòng dưới lòng biển. Là A Dạ đã đưa nàng trở lại bờ, nói không chừng A Dạ cũng đang ở một góc nào đó giữa biển khơi này, lặng lẽ dõi theo nàng.

Nàng bơi thật nhanh giữa lòng đại dương, làm xáo động không biết bao nhiêu đàn cá. Thi thoảng nàng ngoi lên mặt biển rồi lại lặn xuống tận đáy, nhưng khắp nơi chỉ có biển nước mênh mông, ánh trăng thanh lãnh và gió biển dịu dàng.

Chẳng biết đã qua bao lâu, ở trong nước, cuối cùng nàng cũng bừng tỉnh ngộ ra.

Sau khi rời khỏi mỗi bí cảnh, “quái vật” đều sẽ tặng họ một món quà.

Đây chính là món quà mà Lương Dạ dành tặng cho nàng.

Kể từ nay về sau cho đến hết cuộc đời, nàng sẽ không bao giờ chết chìm trong nước nữa.

***

Chương tiếp theo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *