Chương 229: Quán Nguyệt Sà (4)
***
Vừa ném bánh và thịt khô ra ngoài, Hải Triều lại cảm thấy hối hận cào xé ruột gan, nếu không có song sắt ngăn lại, e rằng nàng đã lao ra ngoài nhặt chúng về rồi.
Rượu văng trên chiếu tỏa ra mùi thơm nồng nặc, không ngừng dụ dỗ nàng.
Nước bọt dâng lên không kịp nuốt, nàng không kịp suy nghĩ gì thêm, đã cúi sấp xuống, ghé mặt sát vào chiếu.
Đúng lúc ấy, từ gian bên cạnh truyền sang giọng bà lão yếu ớt: “Tiểu nương tử, lão thân đói đến không chịu nổi nữa rồi, trong bụng như có lửa đốt…”
Hải Triều lập tức hoàn hồn, chống tay bật dậy, lăn lộn bò về góc phòng tránh xa chỗ rượu bị đổ.
Dục vọng trào lên này tuyệt đối không bình thường, nàng mạnh tay cấu vào lòng bàn tay, cơn đau khiến đầu óc tỉnh táo đôi chút.
Nàng xé một dải vải từ vạt áo, che kín mũi miệng, buộc nút sau đầu.
Mùi rượu nhạt dần, cơn khát cuồng nhiệt như lửa thiêu cũng bớt đi đôi phần.
“Bà bà mau ném hết mấy thứ đó ra ngoài, tốt nhất tìm gì đó che mũi lại!”
Bà lão do dự: “Cứ thế mà vứt sao? Lỡ đói chịu không nổi thì làm sao?”
“Bà bà tin con, tuyệt đối không thể đụng vào những thứ đó.”
Lời vừa dứt, các gian phòng khác lại vang lên tiếng rên la, tiếng đập vào song sắt ầm ầm.
“Đói… đói quá…”
“Chút này làm sao đủ được……”
“Làm ơn cho thêm chút gì ăn với…”
“Đói chết mất rồi… chịu không nổi nữa…”
Tiếng rên rỉ kêu khóc càng lúc càng nhiều, chẳng bao lâu đã rền vang khắp cả tầng, như quỷ khóc sói tru.
Bánh và thịt khô tuy ít nhưng đủ cầm hơi một chút, không đến nỗi càng ăn càng đói.
Đã nhiều người ăn rồi mà vẫn kêu đói thảm thiết, chỉ có thể là thức ăn bị động tay động chân.
Không cần Hải Triều khuyên thêm, bà lão cũng nhanh chóng ném hết đồ ăn và rượu ra ngoài, vừa run vừa niệm “A di đà phật”.
Tuy Hải Triều tránh được cái bẫy, nhưng vẫn bị cơn đói hành hạ, phòng bên bà lão cũng không ngừng “ôi dào, ôi dào” rên đau.
Cứ như vậy không được, Hải Triều nói: “Bà bà, chúng ta nói chuyện đi, đừng cứ nghĩ mãi đến chuyện đói.”
“Được, được.” Bà lão nói, “Không biết tiểu nương tử quý tính họ gì? Quê quán nơi đâu?”
“Con họ Vọng, là người phương Nam, bà bà cứ gọi con là Hải Triều.” Hải Triều không chắc trong mật cảnh này có Liêm Châu, Hợp Phố hay không, nên nói lấp lửng.
“Nhìn tiểu nương tử đeo đao, có phải biết võ không?”
“Theo người nhà luyện được chút ít.” Hải Triều nghĩ rồi nói thêm một câu, “Chỉ để rèn thân và phòng thân thôi.”
“Thật đáng quý.” Giọng bà lão có chút nghẹn ngào, “Thân thể khỏe mạnh là quan trọng nhất.”
Hải Triều biết bà lại nghĩ đến cháu gái mình, bèn đổi đề tài: “Bà bà biết chuyện Quán Nguyệt Sà từ đâu? Làm sao có được tấm thẻ đó?”
Những tấm thẻ này rõ ràng được phân theo sang hèn giàu nghèo, bà lão này mặc quần áo vá chằng vá đụp, không giống người phú quý, vậy mà lại cầm thẻ gỗ giống hệt Trình Hàn Lân mặc toàn lụa là gấm vóc, Hải Triều vẫn luôn cảm thấy khó hiểu.
Bà lão kể lại: “Lão thân chỉ có một đứa con trai, mười năm trước cùng con dâu đều mất trong trận hỏa hoạn đêm Thượng Nguyên, để lại đứa cháu gái nhỏ cùng lão thân nương tựa nhau.
“May mà trong nhà còn chút tài sản mọn, lại có tộc lão hương thân cưu mang, ngày tháng cũng coi như tạm qua, chỉ đợi vài năm nữa con bé đủ tuổi cài trâm, rồi tìm cho nó một lang quân có thể phó thác cả đời, để lão thân xuống suối vàng còn có thể an lòng đối mặt với cha mẹ nó……”
“Không ngờ hai chục ngày trước, đứa nhỏ bỗng mắc bệnh quái lạ, mời mấy vị y quan đến xem cũng không nhìn ra được manh mối. Sau nghe nói đạo quán gần đó có một vị đạo nhân chuyên trị những chứng bệnh kỳ lạ, lão thân liền đến cầu ông ấy chữa cho cháu ta. Đạo nhân kia đến xem, nói cháu ta mắc không phải bệnh của nhân gian, thuốc men thông thường dĩ nhiên vô dụng, chỉ có lên được Quán Nguyệt Sà, cầu được linh dược từ tay tiên nhân mới có thể cứu mạng cháu ta.”
“Ta gom nhà cửa, sản nghiệp mọn và ruộng đất bán sạch, lại dâng thêm mười năm dương thọ còn lại, mới đổi được tấm thẻ gỗ ấy.”
Bà lão nghẹn ngào một tiếng, lại tức giận nguyền rủa: “Tên trộm trời đánh kia, dám cướp thẻ của ta, không chết tử tế được!”
Hải Triều an ủi bà vài câu, rồi không nhịn được hỏi: “Bà bà không sợ đạo nhân đó lừa lấy gia nghiệp hay sao?”
“Đạo nhân ấy có bản lĩnh thật. Cháu ta vốn đã nằm liệt giường, nhìn là biết không trụ được lâu nữa, may nhờ ông ta hoá một đạo linh phù vào nước cho uống, hôm đó đã có thể xuống đất đi lại, không khác gì người khoẻ mạnh. Nhưng phù này chỉ trị được phần ngọn, muốn trị tận gốc thì phải đem được tiên dược về. Lão thân nửa cái mạng đã xuống đất, cháu ta mà không qua nổi, ta giữ mấy thứ gia sản đó còn có ích gì?”
Bà dừng một chút, rồi nói: “Hơn nữa khi ấy tin tức về Quán Nguyệt Sà đã truyền khắp nơi, nhiều người tận mắt thấy tiên nhân hiển linh, sao có thể là giả được!”
Một lúc sau, bà lão thử hỏi: “Còn Vọng tiểu nương tử đây lên thuyền vì cớ gì? Là cầu thuốc cho mình hay vì người nhà?”
“Ta không muốn thành tiên, cũng không phải đến để cầu thuốc,” Hải Triều nói, “Chỉ là tò mò, lên thuyền mở mang kiến thức.”
“Tấm thẻ của tiểu nương tử từ đâu mà có?” Bà lão lại hỏi.
“Bạn ta có dư nên tặng ta một tấm.” Hải Triều đáp qua loa.
Trong lúc hai người trò chuyện, trên thuyền càng lúc càng ồn ào, tiếng người gào khản cả cổ đòi ăn, thậm chí còn có kẻ đập đầu vào song sắt.
Qua một lúc lâu, giọng nói kia cuối cùng lại vang lên: “Chư vị bớt nóng nảy, bớt nóng nảy.”
Âm thanh ấy như chứa sức mạnh, vừa vang lên đã xung quanh liền yên tĩnh trở lại.
“Chư vị đã dùng xong bữa tối, hẳn là đã phần nào giải được cơn đói khát?”
Có kẻ gan lớn lẩm bẩm oán thán: “Cơm canh quá ít, bấy nhiêu làm sao đủ ăn……”
Giọng kia bật ra tiếng cười vui thích: “Không thể khiến chư vị có cảm giác như khách quý tại gia là lỗi của chủ nhân, xin chư vị thứ tội. Nhưng xin cứ yên tâm, tại hạ đã chuẩn bị sẵn một khu chợ lớn, trong tửu lâu quán xá có vô số mỹ tửu mỹ thực, lại có giai nhân bầu bạn, đảm bảo chư vị thoả mãn.”
Người vừa rồi sốt ruột đến mức gõ mạnh vào song sắt: “Vậy còn không mau thả chúng ta ra!”
“Chớ vội, chớ vội, xin cho tại hạ phân rõ quy củ của khu chợ trước.”
Giọng nói kia dừng một chút: “Thứ nhất, chợ mở suốt đêm đến tận bình minh, các quán không thu vàng bạc tiền đồng, chỉ nhận ‘ngọc tử’ phát lúc lên thuyền; thứ hai, trên chợ mọi thứ đều có thể mua bán; thứ ba, cấm dùng vũ lực cướp đoạt, kẻ vi phạm chết. Các quán đều cho nợ trước, xin chư vị cứ việc tận tình hưởng dụng.”
Hải Triều lấy cái túi vải nhỏ được phát lúc lên thuyền, đổ năm viên đá nhỏ màu nâu vào lòng bàn tay, hiển nhiên đây chính là “ngọc tử”.
Nàng lại suy nghĩ kỹ ba điều quy củ kia, nghe thì không có gì sai nhưng nghiền ngẫm mới thấy lời nói rất hàm hồ.
Từ việc đồ ăn lúc nãy có thể thấy trong khu chợ kia còn nhiều bẫy rập chờ họ.
Nàng chần chừ một chút, rồi dùng bát rượu rỗng gõ vào song sắt: “Ta có một câu muốn hỏi.”
Giọng nàng không lớn, nhưng trong không gian im lặng như chết, âm thanh thanh trong của thiếu nữ lại càng nổi bật và đột ngột.
Giọng kia không lập tức trả lời.
Không khí như đông lại một thoáng, tựa hồ có một con mắt vô hình đang dò xét nàng.
“Vị khách này dường như chưa dùng bữa tối?” Giọng kia không đáp mà hỏi ngược.
“Ta không đói, ăn không vô.” Hải Triều nói, “Ta có thể hỏi được chưa?”
“Xin hỏi.” Giọng nói có chút miễn cưỡng.
Những khách nhân ở các gian khác đồng loạt thấp giọng oán thán, tiếng “ong ong” như bầy ong vo ve.
“Có gì để hỏi chứ…”
“Mau mở chợ mới là chuyện quan trọng…”
“Đói chết mất rồi đói chết mất rồi đói chết mất rồi……”
Hải Triều giả như không nghe thấy: “Làm sao mới lên được tầng trên?”
Có người phát ra tiếng “chậc chậc” đầy bất mãn: “Đang nói chuyện cái chợ, hỏi mấy thứ chẳng liên quan để làm gì!”
“Ngươi không muốn ra thì đừng cản chúng ta!”
Tiếng phụ họa nối tiếp không ngừng.
Hải Triều giật thót, lúc lên thuyền ai nấy đều muốn trèo lên tầng cao nhất để cầu tiên dược, vậy mà chỉ mới bao lâu, họ dường như đã quên sạch mục đích đến đây.
Giọng kia nói: “Chuyện này không vội, khách quý cứ đến chợ dạo chơi tiêu sầu trước đã.”
Hắn càng nói như vậy, ý định của Hải Triều càng kiên định, nàng lại hỏi lần nữa: “Làm sao mới lên tầng?”
Giọng kia bất đắc dĩ: “Đợi đến sáng sẽ sắp xếp lại tầng.”
“Dựa vào cái gì mà sắp xếp?” Hải Triều hỏi tiếp, “Điều kiện để lên tầng rốt cuộc là gì?”
“Tùy vào số lượng ngọc tử trong tay chư vị.”
“Lên tầng hai cần bao nhiêu?”
“Năm viên ngọc trắng.”
“Vậy một viên trắng đổi bằng bao nhiêu viên nâu?”
“Năm viên.” Giọng kia như có chút mất kiên nhẫn, “Chợ sắp mở rồi, vị khách xin cứ hưởng dụng rượu ngon thức ăn……”
“Khoan đã!” Hải Triều vội nói, “Hỏi thêm một câu, câu cuối cùng… nếu ăn chịu rồi trả không nổi thì sao? Có chết không?”
“Tất nhiên là không!” Giọng kia như bị giật mình, “Đó sao có thể là đạo đãi khách!!”
Ngay sau đó hắn “khục khục” cười: “Đợi đến sáng khách quý sẽ biết.”
Vừa dứt lời là ba tiếng chiêng vang trời, hàng trăm cánh cửa sắt đồng loạt bật mở, mọi người reo hò ào ra, như thủy triều ùa về phía trung tâm con thuyền.
Hải Triều bước ra khỏi khoang, đi đến cửa phòng của bà lão nhìn vào, thấy bà nằm nghiêng trên chiếu, đầu hướng ra ngoài.
“Bà bà có đi chợ không?” Hải Triều hỏi.
Bà lão lắc đầu: “Lão thân sợ đông người, lại đói đến không còn sức, không chen lấn nổi nữa. Vọng tiểu nương tử cứ tự đi dạo, nhớ cẩn thận mọi việc.”
“Vâng, bà bà nghỉ ngơi cho tốt, con đi xem thử.”
Trong chợ đèn đuốc sáng trưng, người đông như kiến, hơi nóng của đồ ăn và hương rượu thơm ngập khắp nơi, thổi bùng cơn thèm khát trong bụng mọi người.
Những thủ vệ đeo mặt nạ đứng chặn cửa lúc trước lúc này cầm trường kích đi lại giữa chợ, duy trì trật tự.
Tất cả quán ăn tửu lâu đều không có chủ quán, cũng không thấy người làm, chỉ có vô số sơn hào hải vị chất đầy trên những chiếc khay vàng, khay bạc to lớn, xếp thành từng ngọn núi nhỏ.
Hải Triều chú ý thấy ở rìa mỗi khay đều buộc một miếng thẻ ngà, trên viết tên món, bên cạnh tên món lại có hàng chữ nhỏ như đầu ruồi ghi giá.
Nàng liếc qua đã thấy những món này không hề rẻ: một quả anh đào bì la mà tốn nửa viên ngọc nâu, bánh hồ rẻ hơn chút, hai chiếc cũng nửa viên nâu, cá sống thái lát một đĩa tốn hẳn một viên nâu.
Khách tầng một đa phần xuất thân bần hàn, những món trân quý như thế đừng nói là được thấy, ngay cả nằm mơ cũng không dám mơ.
Người cẩn thận thì còn liếc qua thẻ giá, nhưng phần lớn như bị trúng tà, chẳng màng gì nữa, ùa lên cướp giật như phát cuồng.
Có kẻ cướp giật đến đỏ mắt, lập tức có người đeo mặt nạ ra tay, dùng trường kích hất kẻ gây chuyện sang một bên.
Hải Triều đi xuyên qua vòng ngoài các quán ăn, tiếp tục đi sâu vào trong. Khu chợ rộng hơn nàng tưởng, gần như bằng nửa một khu thị trấn, lối đi bên trong uốn lượn chằng chịt chẳng khác nào mê cung.
Những thứ thường bán trong chợ ngoài đời thực ở đây cũng có đủ cả: áo quần giày tất, trâm hoa ngọc châu, phấn son hương liệu, đồ chơi mới lạ… khiến người ta nhìn hoa cả mắt.
Ngoài tửu lâu quán ăn, nhiều nhất là những căn phòng nhỏ để nghỉ ngơi, đi vài bước lại thấy một gian, rèm cửa vén nửa, tựa như cố ý mời người liếc vào bên trong.
Những căn phòng này có sang có mọn, hoặc đơn sơ chỉ một chiếc giường sạch sẽ, hoặc tinh xảo xa hoa đến mức khiến người ta lưỡi khô miệng đắng, lại có gian bên trong còn có mỹ nhân tiếp khách, nam nữ đều có, nhưng nữ chiếm đa số.
Khách thuyền ăn uống ngấu nghiến một trận trong quán xá, rượu no thịt đủ, bèn chọn một gian phòng bước vào, kẻ thì ngả đầu ngủ lăn, kẻ thì nóng ruột vội vã cùng mỹ nhân trong phòng mây mưa, thậm chí có người ngay cả rèm cửa cũng không kịp buông xuống, trông vô cùng khiếm nhã.
Hải Triều đi ngang một căn phòng vô cùng tinh xảo, vô thức liếc vào bên trong, không ngờ lại chạm mắt với một thiếu niên.
Thiếu niên ấy mặc áo lụa mỏng như khói, nửa nằm nửa tựa trên giường, gần như có thể nói là thân thể phơi bày.
Hải Triều giật mình, còn thiếu niên thì mỉm cười nhàn nhã, ngồi dậy bước ra phía cửa: “Tiểu nương tử, đêm dài quạnh quẽ, có muốn vào trò chuyện với nô đôi câu chăng?”
Mặt Hải Triều đỏ bừng: “Không không không, không cần không cần……”
Nàng vừa lắc đầu vừa lùi lại liên tục, bất ngờ va phải lồng ngực một người, hơi ấm xuyên qua lưng truyền đến, hương trầm thanh nhã thấm vào phổi.
Hải Triều vội nói “xin lỗi”, cả người bỗng chốc cứng đờ.
Trong mùi trầm hương thượng hạng kia, rõ ràng có một sợi hương thanh đạm khó nhận biết.
Tim nàng như bị nện mạnh một cái, suýt chút nữa thốt lên “Tiểu Dạ”, nhưng người phía sau đã lên tiếng trước: “Cảnh Minh ca ca, có đau không?”
Trên đỉnh đầu truyền xuống một giọng nói quen thuộc, dịu dàng chu đáo như trước chỉ là nói với người khác: “Không sao, đừng lo.”
Ngay giây hắn mở miệng, hốc mắt Hải Triều đã cay nhòe.
Không sao, đều là do mật cảnh làm loạn, không sao hết, chỉ cần được gặp người là tốt rồi.
Hải Triều dụi mắt, quay lại đối diện đôi nam nữ phía sau.
Cả hai đều mang mặt nạ, đổi sang trang phục của dân thường áo vải trâm gỗ, song khí chất phong tư, dáng vẻ cử chỉ lại hoàn toàn khác hẳn những người dân bình thường quanh họ, như hai thế giới tách biệt.
Nàng và hắn chỉ cách nhau một bước, nhưng ở giữa lại như có một vực sâu vô hình.
Ngay cả ở Trường An, nàng cũng chưa từng thấy khoảng cách giữa họ xa đến vậy.
Đây… thật sự là Lương Dạ ư?
Tim nàng siết lại, như vậy có thể khiến nó cứng rắn hơn đôi chút.
Nàng nhìn vào đôi mắt lộ ra sau mặt nạ, cố tìm một chút manh mối cho thấy hắn nhận ra nàng.
Nhưng trong đôi mắt quen thuộc ấy không có chút ấm áp nào, chỉ có lạnh nhạt, thậm chí còn xen lẫn vài phần chán ghét.
Ngược lại, vị công chúa kia thì nhìn nàng từ trên xuống dưới, trong đôi mắt hạnh đẹp đẽ ẩn hiện vẻ hiếu kỳ.
“Xin lỗi.” Hải Triều lặp lại, “Ta vô ý đụng vào tiểu lang quân.”
Bùi Diệp không nói gì, ánh mắt dừng trên mặt nàng thoáng chốc rồi lướt đi, như thể nàng chỉ là một hòn đá ven đường, một bụi cỏ dại, chẳng đáng để hắn nhìn thêm lần hai.
Hắn quay đầu, dịu giọng nói với nữ tử đi cùng: “Chơi đủ chưa? Chúng ta nên về rồi.”
*
Tinh Nguyệt: Lương Tiểu Dạ, thì ra anh chọn cái chết 🙂
***